> > > Truyện Hay Oxford Thương Yêu-Dương Thuỵ > Xem Full Hot New
Download file
Truyện Hay Oxford Thương Yêu-Dương Thuỵ

Nguyen Lam, truyen ngan hay Oxford thương yêu-Dương Thuỵ

Category: Đời sống, Tag: Đời sống,Gia đình,kid_2010tk
08/02/2010 02:01 pm

Oxford thương yêu-Dương Thuỵ

Truyện Hay Oxford Thương Yêu-Dương Thuỵ
Category: Đời sống, Tag: Đời sống,Gia đình,kid_2010tk
08/02/2010 02:01 pm




 

 

 

 

 






Dương Thụy


Oxford thương yêu




Ngỡ ngàng nhập học






 
Cô gái Việt Nam vô cùng rụt rè xuất hiện trước cửa văn phòng giáo sư Baddley sau tiếng gõ rất khẽ. Anh chàng trợ lý có gương mặt rất sáng, mũi thanh và đôi mắt đặc biệt thông minh niềm nở mời cô vào:
“Tôi tin chắc em là Trần Vũ Thiên Kim - Anh phát âm tên cô một cách vụng về nhưng hoàn toàn duyên dáng - Em học hệ Cao học phải không? Giáo sư Baddley dặn tôi đưa em lịch học và cuốn giáo trình này”.
Kim vụt trở thành một con người khác, cô vui vẻ và dạn dĩ trò chuyện cùng người trợ lý, đôi mắt sáng long lanh nhìn cuốn giáo trình dày cộp đã được photo sẵn:
- Thật không ngờ giáo sư quan tâm đến tôi như thế - Kim siết cuốn giáo trình vào ngực như thể đấy là quyển thánh kinh làm người trợ lý bật cười - Tôi phải gửi lại anh bao nhiêu tiền photo? À mà anh tên gì? Anh có thể cho tôi địa chỉ e-mail không? Tôi xin học bổng ở một tổ chức phi chính phủ, họ chỉ cho học bổng trong một năm nhưng vì sang đây trễ do thủ tục giấy tờ phức tạp, thầy trưởng khoa nói chắc tôi đành phải kéo dài chuyện học trong hai năm. Anh không tưởng tượng được đâu, tôi khổ sở mấy ngày nay...
- Ồ! Tôi tưởng tượng được chứ! Tôi là Fernando Carvalho - Người trợ lý mỉm cười - Tôi cũng là người nước ngoài mà. Tôi đến từ Bồ Đào Nha. Tôi đã hoàn thành chương trình Thạc Sĩ cũng bằng học bổng của chính phủ nước này cách nay vài năm. Rồi giáo sư Baddley nhận tôi vào làm trợ lý chính, giờ tôi đang trong giai đoạn nghiên cứu sinh. Đây là danh thiếp của tôi, em cần hỏi gì cứ tự nhiên nhé.
Dù Kim còn muốn trò chuyện thêm tí nữa nhưng Fernando đã lịch sự mỉm cười tiễn cô ra cửa. Anh nói thêm như vừa chợt nhớ ra: “Em không phải trả lại tôi tiền photo sách đâu, coi như tôi tặng em một món quà nhỏ để chúc em can đảm lên!”. Kim thật sự cảm động, cô lắp bắp cảm ơn rồi bước giật lùi cho đến khi cánh cửa khép hẳn lại và Fernando cùng với nụ cười tươi rói của anh biến mất.
Quả là những phút giây được an ủi sau bao nhiêu sự kiện làm Kim cực kỳ bối rối, đến nỗi gặp ai cô cũng lặp lại điệp khúc: “Tôi chỉ có học bổng trong một năm mà sang đây mới biết chắc phải học những hai năm. Bạn không tưởng tượng được đâu, tôi khổ sở mấy ngày nay...”. Cô thuộc týp người sống cần có người quan tâm và đã đắm mình trong sự yêu thương của gia đình từ bấy lâu nay đến mức gần như không trưởng thành nổi. Hôm qua khi trình diện giáo sư trưởng khoa, Kim bị ông ta phán cho một câu xanh rờn: “Cô sẽ không thể hoàn thành khóa Cao học này chỉ với một năm ngắn ngủi. Thật ra điều này cũng có thể xẩy ra nếu cô đến từ một nước nào đó ở Châu Á có nền giáo dục phát triển như Singapore hay Malaysia. Đằng này cô lại... Đã vậy còn nhập học trễ nữa chứ!”. Rồi khi Kim há hốc mồm ra một cách ngu xuẩn “Vậy... vậy thầy khuyên em phải làm sao?”, ông ta nhấn mạnh “Chuẩn bị tinh thần và tài chính để nếu phải kéo dài sang hai năm thì cũng không bị hụt hẩng!”.
Thấy Kim ngơ ngẩn không buồn trả lời, ông trưởng khoa chép miệng:
- Ở những trường Đại học danh tiếng trên thế giới, đôi khi người ta cũng buộc phải cấp bằng cho những nhân vật đến từ nước ngoài vì lý do ngoại giao hay chính trị. Tuy nhiên tôi không nghĩ cô thích bằng cấp kiểu đó. Cô đã đích thân tìm học bổng sang đây, cô được trường chấp nhận cho nhập học, nên tôi đoán cô muốn có kiến thức thật sự! Thôi cố gắng xoay sở. Tôi thấy không có vấn đề gì!
Kim định nói “Dĩ nhiên, vì đó đâu phải là vấn đề của thầy!”, nhưng ông đã ra dấu tiễn cô với nụ cười nhếch môi vừa lạnh lùng vừa giễu cợt.
Kim từ văn phòng khoa Kinh Tế trên phố Manor buồn bã không muốn quay về khu học xá, cô lang thang vào trung tâm thành phố nơi qui tụ những ngôi trường trực thuộc Đại học Oxford. Sang đây Kim mới ngỡ ngàng nhận ra Đại học thuộc loại lâu đời nhất châu Âu này có đến ba mươi chín ngôi trường độc lập khác nhau gọi là “college”. Mỗi college trông cổ kính và đẹp kiêu hãnh như những tòa lâu đài với những cánh cổng bằng gỗ được chạm khắc công phu và những ngọn tháp vươn cao quyền quí. Sinh viên và cả giáo sư chạy xe đạp luồn lách vào những con đường hẹp hay những con hẻm nhỏ lót đá di chuyển từ college này sang college kia. Kim biết rồi mình cũng sẽ được vào trong những ngôi trường cổ kính này dùi mài kinh sử, cô sẽ không học cố định ở một nơi mà tùy theo từng môn sẽ đến các trường khác nhau. Kim tưởng tượng mình như Harry Potter buổi đầu ngơ ngác nhập học ở trường Phù Thủy, ngôi trường cổ kính với những lớp học bé tí, những cầu thang đá nhỏ hẹp và những hành lang dài vô định. Và quả thật, bộ phim Harry Potter được quay tại những college ở Oxford. Ở ngoài phố, Kim thấy có rất nhiều khách du lịch và những đoàn học sinh được giáo viên dẫn đi tham quan Đại học Oxford. Hẳn họ muốn gieo vào lòng những học trò nhỏ niềm hy vọng được vào học trong ngôi trường danh tiếng này. Cô thở dài, nghĩ dù mình đã được nhận vào học nhưng áp lực lớn nhất là phải đi ra với mảnh bằng tốt nghiệp. Sau này về Việt Nam với cái danh học ở Oxford mà không chìa ra được giấy tờ chứng minh chắc Kim chỉ còn nước bỏ xứ đi luôn.
Buổi tối trong khu học xá, gió gào hú không ngừng, mưa quất từng hạt nặng nề vào kính như thể muốn tìm đủ mọi cách chui vào phòng. Kim bất an chốc chốc lại đến bên cửa sổ nhìn ra ngoài trời đêm. Ánh đèn vàng cao áp đủ cho cô nhìn thấy cây cỏ oằn mình trong gió rét. Suốt đêm Kim cứ trằn trọc với câu hỏi “Làm sao có tiền để ở lại Oxford thêm một năm nữa?”. Cô đã đổ bao công sức để xin được học bổng của một tổ chức phi chính phủ và song song đó phải đáp ứng đủ yêu cầu của Đại học Oxford mới được nhận vào ngôi trường danh tiếng này. Vậy mà không lẽ phải quay về Việt Nam khi chưa hoàn thành chương trình. Bao nhiêu cố gắng lại bỏ phí đi sao? Mộng du học ở Anh đã được Kim ôm ấp hồi còn là học sinh Trung học. Cô luôn cố gắng trao dồi tiếng Anh từ những ngày đó, rồi trong suốt bốn năm Đại học, cô vẫn không ngừng truy tìm học bổng và duy trì điểm số luôn ở mức xuất sắc. Tốt nghiệp ra trường Kim vẫn chưa có cơ hội nên cô lại tiếp tục xoay xở tìm nơi cấp học bổng và xin các trường Đại học chấp nhận. Mãi đến ba năm sau khi tốt nghiệp Đại học, khi đã có một công việc thú vị trong một công ty uy tín, Kim mới hạnh phúc có được niềm vui biến giấc mơ từ thời học sinh thành hiện thực. Đó là cả một quá trình dài phấn đấu và kiên nhẫn không ngừng. Nhưng giờ giấc mơ đó chỉ mới thực hiện được một phần, quan trọng nhất là phải hoàn thành khóa học rất nặng bên đây theo đúng thời hạn một năm.
Gia đình Kim tuy rất quan trọng chuyện học nhưng không đủ khả năng để nuôi cô trong một năm sinh hoạt ở Anh, nơi có mức sống thuộc hàng đắt đỏ nhất thế giới. Lương đi làm của Kim dành dụm được sau ngày ra trường cũng chỉ đủ cho cô mua sắm đồ đạc trước khi sang đây. Gần sáng, Kim tìm ra câu trả lời: “Chỉ có một con đường: bất cứ giá nào cũng phải học xong trong một năm như người ta! Cố gắng hết sức đuổi kịp ba tuần nhập học trễ. Phải làm cho ông trưởng khoa thấy người Việt Nam cũng học hành đàng hoàng không kém ai!” rồi mệt nhoài đi vào giấc ngủ nhiều mộng mị đến mức ngã lăn xuống nền gạch lạnh như băng. Khu học xá đã tắt lò sưởi trung tâm để tiết kiệm nhiên liệu.
x
Oái ăm, buổi học đầu tiên của Kim rơi vào sáng thứ bảy, vào cái ngày mà ai cũng cuộn tròn trong chăn ngủ vùi lười biếng. Ông giáo sư bận quá nhiều việc nên chỉ dạy vào giờ này. Cô khoác áo lạnh dày cộp, ôm cặp, xách dù mò mẫm bước ra đường. Trời hãy còn tối, không một bóng người dù đã bảy giờ ba mươi sáng. Các cửa hàng đóng cửa im lìm chìm khuất trong màn đêm. Kim bước lên xe bus và là người khách duy nhất trên tuyến đường chạy vào trường. Môn này cô học ở một cơ sở hiện đại nằm gần ga, không nằm trong trung tâm thành phố cổ kính. Khi bus dừng thả người khách cô đơn xuống trước khuôn viên khoa, mặt trời cũng vừa hé bức màn dày màu xám ló ra e thẹn. Kim đột nhiên thấy phấn chấn hơn, cô ngước nhìn cảnh bình minh lên với ánh hồng pha cam đẹp lạ lùng rồi mạnh dạn lần đầu bước chân vào giảng đường Oxford, nơi được biết bao người trẻ ao ước. Môn này đã bắt đầu được hai buổi và thu hút khá đông sinh viên nước ngoài. Tụi Ý ăn mặc diêm dúa, một cặp người Nga tóc hung ngồi đầu bàn, ba người nói tiếng Tây Ban Nha, vài đứa sinh viên Anh mặt đầy tàn nhang đang ngáp to như trực thăng kêu. Tất cả đều có vẻ không hài lòng thậm chí là phẫn nộ vì phải đi học vào ngày cuối tuần.
Đúng tám giờ trợ lý Fernando đến phát tài liệu và vào lúc Kim hồi hộp nhất, giáo sư Baddley xuất hiện. Sẽ chẳng bao giờ cô có thể quên giây phút ấn tượng đó, một người đàn ông mập mạp, tóc húi cua, mặc chiếc áo len màu xanh thủy thủ có nụ cười hiền như bụt đang ngồi trên một chiếc xe lăn bằng điện dần dần tiến vào lớp. Giáo sư Baddley trứ danh đây sao? Kim ngỡ ngàng. Ông là người khuyết tật, chiếc xe của ông phát ra tiếng “rè rè” làm cô bối rối. Xe chạy ngang qua chỗ Kim, theo phản xạ tự nhiên cô đứng dậy cúi đầu chào giáo sư kính cẩn. Hành động lễ phép này làm sinh viên trong lớp hơi ngạc nhiên vì bọn chúng vẫn đang vô tư nhai kẹo cao su. Nhưng giáo sư không lấy đó làm lạ. Ông gật đầu chào lại và tiếp tục lái xe tiến đến bàn giáo viên. Sau vài phút hướng dẫn, giáo sư điều khiển xe lui xuống, nhường bục giảng lại cho một sinh viên người Tây Ban Nha. Mỗi người trong lớp phải soạn bài và giảng lại cho các bạn đồng môn. Vai trò của giáo sư chỉ hướng dẫn chung và chấm bài tiểu luận.
Cuối buổi học giáo sư Baddley lái xe lăn đến bên Kim cười đôn hậu: “Em là người Việt Nam phải không? Tôi có nghe thầy trưởng khoa nói về trường hợp nhập học trễ của em. Hiếm khi có sinh viên từ Việt Nam. Cố gắng nhé. Cần gì cứ đến văn phòng của tôi, nếu tôi không có ở đó thì cứ nhờ trợ lý Fernando”. Kim xúc động lí nhí cảm ơn rồi nép người nhường đường cho ông lái xe ra thang máy.
Trời đang mưa. Lại mưa. Những cơn mưa trứ danh của Anh, mạnh mẽ, dai dẳng, rơi mãi không ngừng. Gió thổi những cơn gió rét quất vào mặt Kim thật thô bạo. Cô quấn khăn vào cổ chặt đến mức gần nghẹt thở phải ho khan lên. Tụi sinh viên Oxford thích đi xe đạp và khóa xe đầy đường nhưng Kim biết mình chỉ ở đây không lâu nên chẳng cần mua xe đạp làm gì. Gặp lúc xe hư còn khổ thêm vì làm sao tìm được những chỗ sửa xe ngoài góc đường như bên Việt Nam. Ở trạm xe bus chỉ có vài người đứng chờ, miệng nhai nhóp nhép chút gì đó. Bụng Kim cũng cồn cào, cô mở cặp tìm mấy viên kẹo nhai cầm hơi. Đã một giờ trưa. Lúc xe bus chở Kim chạy ngang bãi đậu xe cô thấy giáo sư Baddley điều khiển xe lăn của mình chạy đến một chiếc xe hơi rồi loay hoay tìm cách chui vào đó. Thì ra ông tự lái xe đi dạy.
Sau buổi học đầu tiên với người thầy dễ mến dù không có khả năng tự đi trên đôi chân của mình, Kim thất vọng nhận thấy những giáo sư còn lại tuy lịch sự nhưng khá lạnh lùng và gần như vô cảm với những khó khăn của người khác. Đa phần họ đều trông rất sang trọng với những bộ complet cắt may vừa khéo. Khoa Kinh Tế, giáo sư ngoài những giờ lên lớp còn hợp tác làm tư vấn cho các công ty và tham gia nhiều dự án đầu tư với các nước giàu. Kim hay nhòm ngó sang những khoa “hiền lành” như Nông Nghiệp, Lịch Sử hay Sinh Vật để ao ước học với những vị giáo sư mộc mạc, giản dị và nhiệt tình. Fernando bảo cô đừng trông đợi sự tử tế của bất kỳ ai. Cứ cố gắng hết sức rồi thì sẽ có một “quới nhân” phù hộ. Giáo sư Baddley là một người như thế. Fernando nói ngay trong cộng đồng Châu Âu, những nước giàu cũng hay xem thường những nước kém phát triển hơn. Bồ Đào Nha là một nước tụt hậu nhiều so với Châu Âu, nên bản thân anh trước kia cũng gặp khá nhiều khó khăn. Nhưng giáo sư Baddley vẫn đối xử với Fernando một cách hoàn toàn công bằng. Ông đánh giá anh qua thái độ cần mẫn, nghiêm túc trong công việc và qua tinh thần cầu tiến của một thanh niên đến từ một đất nước còn nhiều rào cản. Khi Fernando kể lại với Kim điều này, anh hơi ngượng. Cô cười, làm bộ trêu nhưng thực lòng thấy tự hào được anh chia sẻ: “Chà! Em thấy giáo sư biết nhìn người ghê!”. Fernando hơi đỏ mặt, đôi mắt thông minh ánh những tia lém lỉnh: “Đến từ những nước nhỏ thì chỉ có một con đường là nỗ lực để đừng bị người ta xem thường!”
Nhiều đêm, khi gió không chịu ngủ cứ thang lang luồn lách vào những cành cây khẳng khiu làm chúng phải kêu lên răng rắc, Kim trằn trọc. Những người trẻ đến từ một nước nhỏ xíu gần như không tên tuổi như cô không phải chỉ muốn “đừng bị người ta xem thường” mà còn làm sao để được người ta tôn trọng. Nhưng quả thật “vươn lên” là điều ai cũng muốn nhưng không phải cứ muốn là được như câu tục ngữ tự phỉnh mình “Vouloir c’est pouvoir” (*) của dân Pháp. Học ở Oxford dù có cố gắng “lấy cần cù bù thông minh” hay “năng động - sáng tạo” kiểu gì thì so với sinh viên Anh, Mỹ hay các nước Châu Âu khác, Kim cũng chỉ là người đến từ một nước có nền giáo dục không được phát triển như ông trưởng khoa đã lo ngại. Những lúc phải nộp bài theo nhóm, bị chúng bạn tìm cách né tránh không cho cùng gia nhập, Kim vừa chán nản vừa phẫn nộ. Mấy đứa sinh viên nước ngoài - mà đa phần là dân châu Mỹ La Tinh và châu Á - đành tụ lại thành một nhóm “hợp chủng quốc”. Và với vốn kiến thức rất “ô hợp”, thường nhóm không bao giờ có được điểm cao và luôn nhận được những nhận xét rất khắc nghiệt của giáo sư. Một lần Kim ao ước: “Giá mà tụi sinh viên bản địa chịu “gánh” dùm mỗi nhóm một vài đứa nước ngoài thì điểm số mình không đến nỗi lẹt đẹt như vậy!”. Fernando đã nổi giận phản đối: “Với ý nghĩ đó, tự em đã xếp mình vào hạng làm gánh nặng cho người khác. Nếu muốn được nhìn nhận, phải có lòng tự trọng chứ!”. Lần đó cảm thấy bị “xúc phạm ghê gớm” Kim thề sẽ không bao giờ nhìn mặt Fernando nữa. Nhưng rồi cô chột dạ nhớ lại, ngày trước học Đại học ở Việt Nam, cô vẫn có thái độ xem thường những bạn từ các tỉnh xa. Cô nghĩ họ làm sao giỏi tiếng Anh bằng mình, làm sao năng động được trong điều kiện nghèo nàn sách vở, làm sao tiếp cận nổi giới doanh nghiệp vì có quen biết ai. Những người bạn đó cũng không được giới thành phố như Kim đón nhận, họ tự chơi với nhau, tự giúp nhau học rồi đi tìm việc để trang trải cho cuộc sống xa nhà. Chẳng bao giờ cô bận tâm khi nghĩ về những khó khăn của họ. Giờ đây sang Oxford, thấy khoảng cách giữa “người ta” và “mình” xa vời vợi, như thể người Sài Gòn tự nhận văn minh nhìn vào một cô nàng nào đó từ núi rừng mọi rợ bước ra đòi hội nhập.
Trong khu học xá gồm nhiều căn nhà cổ theo lối kiến trúc Victoria trên phố Woodstock, Kim ngụ trong một căn nhà có mười hai nhân khẩu. Sang Oxford cô mới kinh ngạc nhận ra những hình ảnh các ký túc xá to lớn, rộng rãi thường thấy trên phim hoàn toàn chỉ thích hợp cho những trường Đại học ở Mỹ hay các thành phố hiện đại khác ở Anh. Oxford trung thành với lối kiến trúc cổ và tự hào vì điều đó. Những dãy nhà cổ bé tí dễ thương với những căn phòng cũng nhỏ xíu nằm trên những con phố xinh đẹp như Woodstock, Walton, St John... chính là những khu học xá dành cho sinh viên. Trong căn nhà chung của Kim, ngoài cô còn có Yutaka người Nhật và Lệ Chi người Trung Quốc là sinh viên nữ đến từ châu Á. Thời gian đầu có vẻ hút nhau vì cùng màu da vàng, ba người hay ăn cơm chung trong nhà bếp dưới tầng một, nhưng vài tuần sau Lệ Chi tự động lảng tránh nhóm các cô gái châu Á để hòa mình nhanh chóng vào thế giới châu Âu.
Lệ Chi xinh xắn nhất, trẻ nhất, mới là sinh viên dự bị Đại học gọi là “A level”, nhưng cực kỳ chịu chơi. Lắm hôm khi đi xuống bếp pha trà, Kim giật mình đụng mặt cô bé từ phòng tụi Tây Ban Nha đi ra lúc đêm khuya. Kim đã thử khuyên Lệ Chi nhưng cô bé khó chịu ra mặt nên Kim quyết định “mạnh ai nấy sống”. Nghe đâu Lệ Chi là con một, cha là thương gia, mẹ trước kia là diễn viên, gia đình giàu có nhưng không hạnh phúc. Yutaka trái ngược hoàn toàn với Lệ Chi, cô trạc tuổi Kim, tính chững chạc và không nhan sắc nên sống khép kín. Yutaka học ngành khảo cổ, một ngành luôn tìm về với quá khứ nên trông cô cũng rất lạ. Bọn Tây ngại tính giữ kẽ của Yutaka nên thường cũng chỉ giao thiệp với Kim và Lệ Chi. Xem chừng họ quí Kim hơn vì cô thân thiện nhưng biết dừng đúng lúc, không quá đà và “dễ dụ” như cô bé Trung Quốc. Nhiều lúc Kim lắc đầu cười cho những ngộ nhận, trước kia cô cứ tưởng phụ nữ Nhật rất quậy còn con gái Trung Quốc đoan trang hơn.
Sang đến cuối tháng mười, Kim vui mừng đón một đồng hương mới từ Việt Nam sang, chị là giáo viên một trường Đại học, sang tu nghiệp theo chương trình hợp tác với khoa Hàng Hải, sẽ chỉ ở Oxford bốn tháng. Mấy ngày đầu Thúy Hà phải nhờ Kim dẫn đi giới thiệu trường
và giúp làm một số giấy tờ. Kim ngỡ ngàng nhận ra Thúy Hà hoàn toàn không hợp với mình. Chị nói tiếng Anh chưa rành nhưng hay ra vẻ ta đây, thích lên giọng đàn chị dù chỉ hơn Kim một tuổi. Kim thường nhìn cái cách “dốt mà làm như hay chữ” của Thúy Hà mà ngẫm đến lời giáo sư trưởng khoa: “Ở những trường Đại học danh tiếng, đôi khi người ta cũng buộc phải cấp bằng cho những nhân vật đặc biệt vì lý do ngoại giao hay chính trị”.
Chán thực lực của Thúy Hà đã đành, Kim còn bất mãn với tính nết của cô bạn đồng hương. Có tí nhan sắc và dù đã có chồng với một con trai hai tuổi, Thúy Hà vẫn lúng liếng đưa tình với tất thảy bọn con trai ở đây, dù da đen hay da trắng, miễn vạm vỡ và đẹp trai là được. Cái vẻ lẳng lơ lộ liễu như Thị Mầu của Thúy Hà làm Kim xấu hổ khi có ai đó hỏi “Bạn và Thúy Hà cùng là người Việt Nam hả?”.
Kim thất vọng nghĩ mình tìm không ra một người bạn tâm giao ở đây, trong lớp bị lạc lõng đã đành, về khu học xá cũng chỉ là những mối quan hệ xã giao. Có thể bọn Tây không lạnh lùng, thậm chí còn sẵn sàng giúp đỡ, nhưng bản thân họ cũng luôn bận rộn, mà Kim thì thấy thật tự ti. Vài anh chàng người Anh đẹp trai như hoàng tử William, chắc xuất thân từ gia đình quyền thế, đôi khi làm Kim rụng tim nhưng cô biết họ không dành cho mình. Cũng có chàng xấu trai và mặt đầy tàn nhang, nhiều lúc Kim muốn kết thân nhưng họ lại có vẻ mặc cảm. Những anh chàng nước ngoài khác đến từ khắp nơi trên thế giới, đủ mọi màu da, sang hèn các loại, đẹp trai cỡ Brad Pitt không thiếu mà ngáo ộp như một chàng Ivan nông dân cũng rất nhiều. Ai cũng “thủ”, tự tôn, tự ti rộn cả lên. Rốt cuộc, Kim kết luận: “Đừng mơ mộng gì nữa!”
Từ ngày bị Fernando nói thẳng đến mức tự ái không thèm nhìn mặt anh, Kim tìm ra nguồn khác để trút những than thở của mình. Cô hay viết email về kể khổ và nhận được những lời động viên của bạn bè bên nhà. Tuy nhiên họ thường làm cô khó chịu. Có người vô tư hô khẩu hiệu: “Người Việt Nam mình ở đâu cũng giỏi!”. Người thì tin tưởng cô tuyệt đối: “Kim phải đứng nhất lớp đó nhé!”. Kẻ khác thuộc hạng “ếch ngồi đáy giếng”, chúc cô một câu xanh lè: “Học giỏi cho tụi Tây lé mắt luôn!”. Kim bực mình nghĩ lỗi này do các phương tiện truyền thông chỉ đua nhau ca ngợi những gương mặt Việt Nam thành công ở nước ngoài, rồi báo chí hè nhau hoan hô các học sinh - sinh viên đoạt giải thưởng và các huy chương quốc tế. Nhưng những trường hợp đặc biệt này chiếm bao nhiêu phần trăm? Còn bao nhiêu du học sinh học hành lẹt đẹt, ngoại ngữ lõm bõm, cày ngày cày đêm cũng chỉ mong vượt qua được ngưỡng không bị điểm liệt sao họ không đưa tin? Rồi chịu khó lên mạng Internet mà xem, ở khắp nơi trên thế giới còn bao nhiêu sinh viên Việt Nam bế tắc đến nỗi phải vào bệnh viện tâm thần hay thương tâm nhất là tự hủy mình, sao báo chí không lên tiếng? Kim căm ghét cái thói sĩ diện và hay ca ngợi của dân mình. Hay là càng tự ti nên mới càng tự tôn, dạng như Thúy Hà, giáo viên Đại học đó?









Kẻ gây thù chuốc oán



Nắng vàng trong vắt nhẹ nhàng đậu trên vai Kim. Một ngày thật hiếm hoi thấy bầu trời trong xanh hơn. Kim rảo bước vào trường qua cánh cổng gỗ xưa cũ và uy quyền. Cô có hẹn đến văn phòng của giáo sư Baddley. Giáo sư đón cô bằng nụ cười thân thiện nhưng Kim vẫn thấy hết sức hồi hộp.
Giáo sư hỏi:
- Bài tiểu luận này em có nghĩ rằng đã làm hết sức mình chưa?
- Dạ... dạ... - Kim cố nén trả lời thật nhỏ nhẹ - Dạ rồi!
- Em lấy thông tin từ đâu? - Giáo sư hiền lành nhìn Kim đang mướt mồ hôi, cười khích lệ nhắc - Hít sâu, thở đều!
- Từ Internet, từ các sách em đã ghi vào tiểu luận mục “Tham khảo”, và từ...
- Từ đâu?
- Từ... Fernando Carvalho, trợ lý của thầy - Kim lúng túng thú nhận, cô chợt nhớ mình chưa trả tài liệu cho anh từ dạo không nhìn mặt nhau đến nay - Có vấn đề gì không ạ? Thông tin đó Fernando có được từ kỳ thực tập tại công ty Euroexport cách nay ba năm.
- Không sao. Tôi chỉ muốn biết em có năng động trong việc tìm dữ liệu không. Nhân tiện - Giáo sư Baddley cười ngụ ý - Fernando thường xuyên giúp em chứ? Không phải chỉ có môn của tôi mà những môn khác nữa chứ?
Kim đỏ mặt, cô không biết nói sao. Cuối cùng cô thú nhận hai đứa có một vài tranh luận trong phương pháp học nên tạm đang trong thời gian suy nghĩ xem ai đúng. Baddley gật gù nhận xét:
- Fernando là một thanh niên “được” lắm đó. Anh ta cũng có vài điểm giống em, cùng là người nước ngoài, cùng hiếu học, cùng rất tử tế.
Kim chờ giáo sư khen thêm nhưng đột nhiên ông quay lại đề tài chính. Ông nhận xét bài tiểu luận của Kim thiếu nhiều chi tiết quan trọng, cách viết khó hiểu, trình bày chưa chuyên nghiệp. “Cách trình bày cũng quan trọng không kém phần nội dung - Giáo sư chân thành khuyên - Em nên nhờ Fernando chỉ cách cho. Sau này làm luận văn tốt nghiệp người ta còn đòi hỏi cao hơn!”. Kim gục gặc đầu ra vẻ đồng ý. Giáo sư khuyên thêm Kim khi cô khoác áo đứng dậy: “Em cũng nên nhanh chóng tìm đề tài làm luận văn đi. Nếu muốn tốt nghiệp chỉ trong một năm em phải làm việc cật lực hơn và phải có phương pháp”. Kim lại gật đầu lia lịa như một con rối nhưng cô không dám hỏi “Ai sẽ chỉ cho em những phương pháp học tập và nghiên cứu có hiệu quả đó? Em đến từ Việt Nam mà!”. Giáo sư đã lăn xe tiễn Kim ra cửa, cô lấy hết can đảm ngoái đầu lại:
- Giáo sư! Em...
Ngay khi Kim còn đang ấp úng và đứng dùng dằng chân trong chân ngoài ngay cửa phòng giáo sư Baddley, Fernando xuất hiện. Anh làm ra vẻ không nhìn thấy Kim nên cô cũng lúng túng cố phớt tỉnh. Cuối cùng giáo sư phải lên tiếng “Hai người không quen nhau sao?” rồi nhìn Fernando và Kim đang gườm gườm chào nhau lí nhí. Người đàn ông có nụ cười hiền như bụt lắc đầu ngao ngán: “Những người trẻ...”. Kim ngơ ngác nhìn ông rồi quay đầu hấp tấp bỏ đi. Sao giáo sư lại nói một câu không ăn nhập gì hết.
Tối đó Fernando đột ngột ghé vào khu học xá của Kim khi cô đang đầu bù tóc rối vừa chiên khoai tây vừa chấm mút với cá hộp trong căn bếp tập thể sặc mùi dầu mỡ. Sốt cà đỏ lem luốc còn đọng lại trên mép cô làm anh bật cười rút khăn tay lau cho cô một cách chăm chú. Bọn bạn cùng ngồi ăn trong bếp chứng kiến cảnh này nhìn nhau ngỡ ngàng: “Cô nàng Việt Nam tưởng hiền lành này có bạn trai mà hồi nào đến giờ giấu kín!”. Kim quê nhất là ánh mắt thoạt ngạc nhiên rồi nhanh chóng giễu cợt “Vậy mà cũng bày đặt làm như chính chuyên lắm!” của Thúy Hà và Lệ Chi. Kim kinh ngạc đến nỗi đờ người ra không phản ứng bất cứ hành động nào. Thậm chí khi Fernando cầm tay lôi cô lên phòng, Kim cũng lê gót theo anh như kẻ mộng du. Anh nhìn ngó săm soi khắp căn phòng dù bé tí nhưng không ngăn nắp rồi lục tung sách vở giấy tờ bề bộn trên bàn cô một cách bất lịch sự.
- Góc học tập của em là thế này đó hả? Không thể nào ngờ một cô gái trẻ trung như thế này mà có thể ở được trong một căn phòng kinh khủng như thế ấy. Chả trách học nhiều mà vẫn không hiệu quả! - Fernando gắt, giọng bất bình mà Kim vẫn chưa kịp tỉnh cơn mê, cô ấp úng chẳng nói được câu gì - Đã không có phương pháp mà còn tự ái cao không chịu nghe lời người đi trước! Có một người đầy kinh nghiệm ở đây mà không biết tận dụng! Sĩ diện hão! Nhảm nhí!
- Hả? - Kim bắt đầu ý thức được chuyện gì đang xẩy ra - Ai khiến anh vào phòng tôi mạt sát chứ? Tôi không cần anh!
Fernando đay lại:
-      Không cần? Vậy ai than thở với giáo sư mình đến từ Việt Nam, mình không được ai bày cho phương pháp làm việc có hiệu quả, mình bị cô lập, mình bị khó khăn?
- Tôi không nói, không hề nói! - Kim phản ứng yếu ớt
- Phải, em không nói - Ánh mắt nghiêm khắc của Fernando ánh lên - Nhưng thái độ tự ti, cách phản ứng tiêu cực, ánh mắt van nài của em đã làm giáo sư nhận ra ngay điều đó!
- Thì sao? Thì sao? - Kim nổi điên thật sự - Ảnh hưởng gì đến anh?
Fernando bị Kim lấn đến chân giường một cách ráo riết đến mức anh phải té lăn ra. Cú ngã làm chiếc giường sắt va vào vách tường thạch cao nghe đánh “rầm”, lại thêm đôi chân mang giày của Fernando vung lên đập vào “rầm, rầm” liên tiếp. Phòng bên bọn sinh viên ré lên cười: “Chúa ơi! Chúng nó “yêu” nhau bạo liệt quá!”. Kim còn nghe rõ ràng cái giọng cao vút điêu ngoa của Thúy Hà nói bằng tiếng Việt: “Thế mới biết ai cũng như nhau hết!”. Giờ Kim mới nhận ra tình huống kỳ cục này, cô lúng túng chẳng biết xử sự làm sao. Vậy mà đôi mắt sắc sảo của Fernando vẫn không tha nhìn vào cô chòng chọc. Cuối cùng, dĩ nhiên, Kim khóc. Cô không hiểu vì sao ở Việt Nam cô vốn không phải là loại hay “mít ướt” nhưng sang đây lại dễ cho người ta thấy mình yếu đuối đến như vậy. Càng khóc Kim càng nấc to. Càng nấc to Fernando càng cười lớn.
- Anh là đồ độc... độc... độc... ác... ác... ác - Kim cố gắng lắm cũng không thể không cà lăm.
- Độc ác! Độc ác! - Fernando mỉm cười lặp lại.
- Tôi căm... căm... thù... thù anh!
- Căm thù! Căm thù! - Fernando nhại, giọng giễu cợt
- Tôi... tôi...
Kim thật sự hết biết mình phải nói gì, cô chợt nhận ra nãy giờ Fernando vẫn nằm trên giường cô, nằm một cách thoải mái không thèm cởi giày, tay chống ngay thái dương, chân bắt chéo nhịp nhịp. Còn Kim, cô đang ngồi bẹp dưới đất khóc lóc. Thật chẳng ra thể thống gì! Cuối cùng Kim cũng phải biết đứng lên và xử sự cho đúng với vai trò chủ nhà của mình. Cô lấy hết sức dõng dạc hô:
- Mời anh đi khỏi phòng tôi!
- Dĩ nhiên! - Fernando tỉnh rụi trước sự “vùng lên” của Kim - Tôi không có ý định ngủ lại trong căn phòng bề bộn sách vở và khá là bẩn thỉu này!
- Tôi... tôi...
- Căm thù! Căm thù! - Fernando nhắc, mặt đểu hết chỗ nói.
- Tôi... tôi... muốn giết anh - Kim hụt hơi.
- Giết đi! - Fernando thách, giọng giễu cợt - Ăn toàn khoai tây chiên với sốt cà chua thì lấy đâu ra sức? Học còn không đủ sức nữa là giết người! Nè, cho đấm vô người tôi nè! Đấm đi!
Kim nhìn thân thể cường tráng, cao ráo của Fernando, biết mình có đấm anh cũng như lấy trứng chọi đá. Nhưng lòng tự trọng không cho phép cô bỏ qua lời “thách đấu” này, Kim lấy hết sức bình sinh thụi một phát vô bụng Fernando và bị dội ngược lại ngay tức khắc. Fernando nhìn Kim ngã chúi ra sau, cười khinh khỉnh: “Có đau tay lắm không?”. Đến nước này Kim chỉ còn biết dậm chân khóc váng lên như một đứa trẻ bị đẩy vào chân tường. Fernando thôi không “độc ác” nữa, đôi tay rắn chắc ôm lấy vai cô vỗ về: “Thôi được rồi! Được rồi! Bình tĩnh! Rồi tôi sẽ chỉ em cách trả thù và cả cách làm sao giết được tôi nữa”.
Phòng bên bọn sinh viên đang áp chặt tai vào vách tường mỏng dính hồi hộp. Cuối cùng, bọn chúng chán nản kháo nhau “Thôi, hết phim rồi!” và tục lục ôm sách vở tản đi. Dĩ nhiên là bọn chúng lầm. Tất cả chỉ mới bắt đầu.
Từ đó mỗi sáng trời hãy còn tối đen, dù gió rét, dù mưa rơi Kim đều bị Fernando gọi điện dựng đầu dậy. Khi cô rửa mặt đánh răng xong, vừa ngáp vừa cột dây giày thì Fernando cũng vừa đến. Anh “kè” Kim chạy vòng vòng tập thể dục quanh khu học xá. Cô vừa thở hồng hộc, vừa mếu máo, vừa khóc thút thít, và vừa nguyền rủa kẻ thù đang “nâng cao đùi” chạy canh chừng đàng sau. Bắt một cô gái ẻo lả, ngại vận động như Kim phải có tinh thần thể thao thật khó vô cùng. Thế là Fernando chỉ còn cách “áp giải” kiểu này mới vời được cô nàng ra khỏi giường lúc đang ngủ ngon nhất.
Trời tờ mờ sáng, khi mấy bà già trùm đầu kín mít dắt chó đi dạo thì Fernando cũng vừa kịp cho phép Kim tự do. Anh mồ hôi ướt đẫm leo lên xe hơi chạy lên trường Đại học. Trước khi cho xe lăn bánh Fernando còn kịp dặn: “Nhớ ăn sáng cho đàng hoàng rồi lên thư viện học! Đừng ngồi trong phòng, dễ bị “hấp lực” của chiếc giường lôi kéo”. Kim gục gặc đầu “Biết rồi! Biết rồi!”, cô đưa tay vẫy, chờ chiếc xe khuất sau cua quẹo chỗ cây phong trụi lá đầu đường rồi co giò nhảy vào phòng tắm. Nước lạnh làm cô tỉnh rụi, thấy tội nghiệp “người dưng” khi không phải cực khổ vì mình. Giờ này chắc Fernando cũng đang tắm ở trường rồi vội vã thay đồ tươm tất chuẩn bị làm việc. Tám giờ rồi, chắc anh chẳng kịp ăn sáng, hình như hôm nay anh phải làm trợ giảng cho giáo sư Baddley đến tận giữa trưa.
Cuối tuần, Fernando lại bất ngờ xuất hiện lúc Kim đang áo xống xộc xệch, tóc tai rũ rượi nằm sấp trên giường xem mấy cuốn catalogue thời trang Lệ Chi cho mượn. Fernando không mặc complet, thắt cravate và khoác manteau trịnh trọng như những ngày đi làm trong tuần. Anh trẻ trung hơn với bộ đồ jean và cái áo thun trắng khỏe mạnh bên trong.
- Trời ơi! - Fernando nhìn mấy cô người mẫu đẹp rụng rời chép miệng - Còn lâu em mới có được vóc dáng “chết người” này. Thay vì lo ăn uống tẩm bổ em lại nằm bẹp xem người ta xinh đẹp hơn mình. Không thấy tức sao?
- Mắc chứng gì anh dám mạt sát nhan sắc của tôi? - Kim vừa tức giận vừa bối rối nhìn lại vẻ luộm thuộm của mình sau những phút bị “hớp hồn” trước vẻ bề ngoài của Fernando - Cuối tuần sao anh không ở nhà nghỉ ngơi đi? Cho tôi hít thở bầu không khí tự do một chút, vác mặt đến đây làm gì?
Fernando khiêu khích:
- Em làm như tôi khoái bám theo một người không-có-khả-năng-thu-hút-đàn-ông như em lắm. Em không thấy tụi sinh viên nữ bám theo tôi sao? Em đâu tới lượt!
- Anh... - Kim tức nghẹn họng - Anh có biết tôi là một người nhạy cảm lắm không? Anh dám xúc phạm tôi vậy đó hả? Anh coi chừng tôi đó! Tôi... tôi có một tâm hồn nghệ sĩ...
Fernando nhìn Kim đang đau khổ và tức giận, mắt cô long lên sòng sọc nhìn quả đáng ngại. Anh cố cười lớn nhưng đã thấy mình không nên chọc giận con gái ở cái khoản này. Fernando đành ra vẻ giảng hòa, anh lấy cây lược chỗ bồn rửa mặt ra đưa cho Kim:
- Em là nghệ sĩ hả? Vậy có gì đâu mà tôi phải “coi chừng”. Tưởng em hù “tôi là võ sĩ” thì mới sợ chứ! Giỡn chút làm gì em nổi điên dữ vậy? Thôi chải đầu đi rồi tôi “hộ tống” em đi siêu thị.
- Tại sao? - Kim ngơ ngác.
- Cơ thể con người như một cái máy vô cùng phức tạp. Em không thể làm việc tốt nếu không nạp đủ nhiên liệu. Em đã bắt đầu tập thể dục, như vậy là rất tốt. Nhưng em còn phải ăn nữa cơ thể mới khỏe ra - Fernando cười, nháy mắt - và đẹp ra nữa!
- Nhưng tại sao tôi phải đi siêu thị với anh? - Kim thắc mắc.
Fernando nhìn thùng mì gói và mấy loại đồ hộp của Kim trên kệ, lắc đầu:
- Vì em không biết cách đi chợ, không biết cách ăn uống cho đúng cách… Em muốn chết hay sao mà ăn toàn mấy cái thứ này?
Ở siêu thị, Fernando dẫn Kim đến từng gian hàng, chỉ cô cách chọn từng loại thực phẩm sao cho thật tươi mà giá không quá mắc. Anh chất đầy một xe nào trứng, sữa, thịt bò, cá, rau củ, mì ống, nui, trái cây... rồi đẩy ra quầy thu ngân. Kim xót ruột rút thẻ tín dụng và gần ngất xỉu khi thấy hóa đơn chạy ra. Fernando làm lơ vẻ mặt ngơ ngẩn vì tiếc tiền của Kim. Anh lo chất thức ăn vào xe rồi chở Kim về khu học xá. Lúc hai người khệ nệ bê hàng hóa lên phòng, tụi sinh viên nhìn chằm chặp rồi mỉm cười đầy ngụ ý. Kim cố phớt tỉnh nhưng không hiểu sao lúc nào Fernando xuất hiện cũng có mặt Thúy Hà, chị ta lầm bầm một mình bằng tiếng Việt đủ lớn cho Kim nghe: “Chàng nuôi nàng kỹ quá!”. Kim vừa ngượng vừa quạu liếc xéo Fernando vì đâu phải anh trả tiền.
- Trong một tuần em phải tiêu thụ hết tất cả những thứ này! - Fernando nghiêm túc căn dặn - Hãy uống sữa, ăn trứng và trái cây mỗi ngày. Nếu hôm nào không khỏe lắm thì ăn cá chứ đừng ăn thịt bò, khó tiêu. Phải uống cho đủ nước! Ăn uống phải đúng giờ, cấm không được bỏ bữa. Tuần sau tôi đến kiểm tra mà thấy còn dư đồ ăn thì đừng có trách!
- Tôi không quen uống sữa, cũng không thích thịt bò - Kim bực quá cãi lại - Tôi thèm cơm Việt Nam mà anh bắt tôi ăn nui và mì ống thì sao tôi nuốt vô? Nếu bắt anh phải ăn... nước mắm mỗi ngày anh chịu nổi không?
Fernando do dự vài giây rồi phán:
- Tôi không cần biết, dù thích hay không em vẫn phải ăn. Nếu thèm cơm Việt Nam thì mỗi tuần cho em ăn một ngày. Còn lại phải ăn mì ống và nui. Những thực phẩm này làm bằng lúa mạch, bổ hơn gạo. Sữa uống chưa quen thì uống ít, từ từ tăng lên.
- Tại sao chuyện ăn uống của tôi cũng bị anh kiểm soát chứ? - Kim nổi xung - Ăn theo kiểu Tây đắt gấp nhiều lần ăn theo kiểu Việt, mà còn không hạp khẩu vị nữa!
- Nếu muốn ăn cơm Việt Nam thì đừng qua đây học - Fernando ngang tàng - Ở Việt Nam thời tiết có khắc nghiệt như bên đây không? Cường độ làm việc có cao như bên đây không? Em nhìn lại mình đi, ốm nhom ốm nhách, xanh lè xanh lét. Còn dân bên đây thì sao? Cao ráo, khỏe mạnh, hồng hào. Tất cả là nhờ cái gì? Em đừng có tiếc tiền cho chuyện ăn uống, đâu phải tiền em kiếm ra, mỗi tháng tổ chức cấp học bổng rót tiền cho em đầy đủ mà. Tại sao sống ở Anh mà cứ nhân lên tiền Việt làm gì cho xót ruột? Nếu em hà tiện, tôi sẽ méc họ để họ khỏi phải hốt xác em sau mùa đông này.
Kim ngao ngán trước anh chàng độc đoán:
- Có cần phải trù ẻo tôi ác miệng đến vậy không? Tôi ghét anh kinh khủng!
- Thì cứ ghét đi! - Fernando bật cười - Thậm chí em còn muốn giết tôi nữa mà! Muốn làm được điều này em phải ăn chứ!
Tuần đầu tiên Kim tiêu thụ không hết đồ ăn, Fernando đến kiểm tra rồi nhìn cô bằng cặp mắt vừa lạnh lùng vừa phẫn nộ:
- Em có thấy ngày trời càng lạnh hơn không? Chỉ mới mùa thu thôi đó mà đã mặc cả chục lớp áo rồi! - Fernando đột ngột xấn đến lật áo Kim ra đếm làm cô không kịp phản ứng - Có muốn sống sót qua mùa đông sắp đến không?
Kim run lập cập trước vẻ nghiêm khắc của Fernando nên lí nhí ngụy biện: “Bao tử tôi nhỏ quá!”. Fernando lắc đầu: “Tôi chỉ mua đồ ăn cho một người như em cần phải ăn, tôi còn ăn nhiều hơn em gấp chục lần! Chỉ có cố ăn mà làm không được thì đòi học hành gì cho nổi. Lúc nào nhìn em cũng lờ đờ, xanh lét, run rẩy. Coi có ra người ngợm gì không? Sao mấy cô nàng đẹp đẹp đó, cũng người châu Á mà đâu có thê thảm như em dữ vậy!”.
Không muốn bị Fernando la lối, xỉ vả, đem nhan sắc cô ra đay nghiến hoài, tuần sau Kim phải nhờ tụi sinh viên ở chung nhà ăn dùm dù tiếc đứt ruột. Mãi đến tuần thứ ba Kim mới ăn được hết số thức ăn theo chỉ tiêu Fernando đề ra. Cô cảm thấy không đến nổi khó ăn theo khẩu phần Châu Âu rồi nhận ra mình không còn bị chóng mặt và xây xẩm mặt mày nữa. Cô nghĩ quả Fernando luôn có lý, tiếc là anh không biết nói dịu dàng.
Fernando luôn có những nguyên tắc của mình mà Kim luôn than trời “Thật là khắc kỷ!”. Nhưng anh đã thành công trong việc tạo cho cô thói quen tập thể dục mỗi sáng và ăn uống đầy đủ chất. Vì thế những nguyên tắc khác trong học tập thể nào Kim cũng phải theo.
- Tôi chỉ em cách lên lịch học thế này: phân bổ ra giờ đọc lý thuyết và tìm tư liệu, còn đây là khoản thời gian em làm bài tập. Sao, có ý kiến gì không?
- Không! - Kim gục gặc - Anh nói gì mà không đúng?
Fernando nén cười:
- Tôi đâu có độc tài dữ vậy! Em chẳng biết tí gì về phương pháp làm việc. Biết quản lý tốt thời gian là em có thể thành công được năm mươi phần trăm rồi!
Fernando tiếp tục chỉ đến cách sử dụng phần mềm vi tính mà Kim tưởng mình đã giỏi hóa ra còn chưa biết gì: Power Point để thuyết trình sao cho thật sinh động, Winword để trình bày các tiểu luận sao cho thật chuyên nghiệp, cách dùng những công thức tài chính trong Excel sao cho tiết kiệm được thời gian mà tiện lợi, cách đọc sách sao cho hiệu quả, cách lên mạng Internet tìm thông tin nhanh chóng, cách nhớ công thức bằng cách ghi lên các mảnh giấy nhỏ dán khắp phòng... Mỗi khi bày cho Kim một phương pháp nào, Fernando chỉ nói qua một lần. Cô phải ghi chép lại để tự mình ứng dụng. Anh dứt khoát không nhắc lại lần thứ hai. Hôm nào lỡ quên, tốt nhất Kim nên đi lang thang khắp khu học xá hỏi ai đó, chớ dại hỏi lại Fernando sẽ bị anh đập bàn quát: “Đã biết trí nhớ không tốt thì phải ghi lại chứ! Tôi ở không đi theo nhắc tò tò cho em hoài sao!”. Kim thấy thật nhức óc. Nhiều lúc Fernando chép miệng than “Bên đây tụi con nít cấp một đã được dạy cách học hiệu quả, còn em lên đến Cao học mới bắt đầu làm quen!”. Kim tự ái kinh khủng nhưng may anh cũng biết an ủi: “Nhờ tiếng Anh của em rất tốt, nếu không còn chết nữa!”. Những lúc phải “ngậm bồ hòn làm ngọt” cho Fernando “lên lớp”, cô thầm tiếc giá anh là một người thầy của mình từ hồi còn ở Việt Nam, hẳn cô không đến nổi “lù khù” đến vậy.
Hầu như ngày nào Fernando đi làm về cũng phải ghé qua khu học xá “phụ đạo” cho Kim. Lúc thì anh kiểm tra bài tập, lúc dạy cô thêm một phương pháp mới để xử lý thông tin. Có hôm đến tối mịt, hơn mười giờ Fernando mới có thể ra về. Nhiều lúc Kim muốn trêu “Anh dặn tôi ăn uống đúng giờ mà sao bản thân anh giờ này còn chưa ăn tối?” nhưng rồi không muốn “chọc vào ổ kiến lửa” nên nhịn cười nhìn Fernando khàn giọng dạy dỗ mình mà bao tử hẳn đang kêu réo nên lắm lúc phải xin xỏ “Em có thể cho tôi một ly sữa không?”. Những lúc như thế Kim thấy thật mềm lòng, cô đưa ly sữa được rót gần tràn và hào phóng cho anh thêm vài loại trái cây. Kim muốn nói một câu gì đó pha trò cho không khí vui vẻ một chút nhưng Fernando lúc nào cũng nghiêm và sẵn sàng nổi quạu. Có lẽ vì anh đang mệt mỏi quá.
Mỗi lần Fernando xách cặp từ phòng Kim ra về với cái dáng vẻ bơ phờ, Thúy Hà lại cười cợt nói với cô “Em hành anh ta xanh lè cả ra! Lúc vào đi đứng đàng hoàng, trở ra sao toàn phải đi hàng hai!”. Thoạt đầu Kim hay buồn nôn với cái giọng đĩ thõa của một người đang làm giáo viên, về sau cô tự an ủi nhờ Thúy Hà nói tiếng Anh tệ quá nên bọn Tây không biết chị ta ăn nói kinh khủng đến mức nào. Kim vẫn thường bực tức Fernando cứ bắt cô phải đóng cửa phòng để yên tĩnh tuyệt đối lúc anh đang cùng cô làm việc. Anh rất ghét cái cảnh chốc chốc bọn sinh viên lại gõ cửa lúc mượn cây thước, khi rủ đi chơi, hoặc nhiều khi chỉ giả bộ hỏi xin cái khăn giấy để tò mò nhìn vào phòng. Fernando làm hẳn một cái bảng đánh vi tính “Xin đừng làm phiền, tôi đang làm việc!” treo ngay cửa phòng Kim từ lúc anh bước vào. Chưa hết, Fernando cực đoan đến mức ra lệnh với Kim: “Chỉ khi nào em nghe chuông báo cháy mới được mở cửa ra, còn bất cứ tiếng động nào em cũng phải mặc kệ! Chính tôi cũng tắt điện thoại di động khi đang dạy em đây!”. Cái mặt hình sự của anh không những đe được Kim mà cũng dọa được tụi sinh viên chung tầng lầu. Dần bọn chúng cũng thôi không nhiều chuyện nữa.
Biết rằng Fernando luôn vì mình, thế mà khá nhiều lần Kim không cưỡng lại được sự lười biếng cố hữu. Do tối thường trằn trọc nhớ nhà và lo lắng chuyện học, cô không ngủ thẳng giấc, sáng lại phải thức sớm tập thể dục nên thường ăn sáng xong thì mắt đã nhíp lại. Không cách chi chống cự nổi, thế là đành chắc lưỡi “Ngủ vài phút!”. Leo lên giường, trùm chăn kín, ấm áp thế này, được ngủ là một hạnh phúc vô biên. Và rồi dù lương tâm vừa cắn vừa rứt trong suốt giấc ngủ đến mức mộng mị thấy Fernando phùng mang trợn má la hét ỏm tỏi “Lên thư viện học, đừng có ngồi trong phòng dễ bị cái giường quyến rũ!”, Kim vẫn không sao tỉnh được dù chuông đồng hồ đổ liên hồi. Đưa tay tắt chuông, Kim còn kịp nêu cái cớ “Ai biểu mình không biết uống cà phê... Ngủ thêm một tí... Ra sao thì ra...”.
Và cái sự ra sao thì ra đó là đến tận mười một giờ Kim mới lồm cồm bò dậy, vừa xỉ vả mình vừa vội vã khoác áo chạy ra bến xe bus để vào thư viện. Thế mà đểu, cô còn dám mon men đến phòng học có Fernando đang cho sinh viên làm bài tập. Đứng bên ngoài cửa sổ nhìn vào, Kim nháy mắt ra hiệu, thấy anh nhìn ra, cô giả bộ vươn vai, làm ra vẻ từ sáng sớm đến giờ phải ngồi trong thư viện học tập miệt mài lắm.
Sự giả dối này của Kim thật non tay so với một người sắc sảo như Fernando. Anh không thèm theo dõi cô làm gì cũng biết cô có học hành đàng hoàng trong thư viện hay nằm nhà đánh một giấc đến trưa. Cuối tuần Fernando đến, chỉ cần anh kiểm tra tiến độ bài tập, hỏi vài câu trong giáo trình là phát hiện dễ dàng Kim có “vấn đề”.
- Sao? Công chúa lười biếng? Cô đã làm gì suốt cả tuần nay mà bài tập tôi giao chưa xong, sách cũng chưa đọc, số liệu chưa tìm?
Ánh mắt Fernando nghiêm khắc đến mức Kim run bần bật và mồ hôi vã ra. Cô lí nhí:
- Em... em... em bệnh!
- Bệnh gì? - Fernando lạnh băng.
Kim cố thuyết phục:
- Em bị cảm cúm. Ngày nào em cũng bị rã rời, cơ thể em đau nhức, mắt em mở không lên, em ăn không được...
- Em chỉ có ngủ thôi! - Fernando thêm vào - Tại sao run dữ vậy? Mà mồ hôi nhỏ ròng ròng trên trán nữa kìa! Chắc bệnh thật rồi!
- Dạ, em bệnh - Kim gật đầu xác nhận
Kim chưa kịp vui mừng vì đã thuyết phục được Fernando anh đã đập bàn đánh “rầm” đầy giận dữ: “Lười biếng thì có thể tha chứ dối trá thì không chấp nhận được!”. Tiếng đập bàn cộng thêm tiếng thét bất mãn của Fernando rồi tiếng khóc rống não nùng của Kim làm thành một “tạp âm” đầy kịch tính, thu hút gần như toàn bộ sinh viên ở tầng lầu. Bọn chúng tranh nhau áp tai vào cửa và hai vách của hai phòng kế bên như những con ruồi bẹp dí bên hủ mật.
Giọng Fernando cao vút:
- Còn gì để nói nữa không? - Hu... hu... hu... - Chỉ nghe Kim khóc già.
- Em nghĩ tôi là ai? - Fernando đanh giọng - Tại sao mỗi sáng tôi phải đến đây tập thể dục với em? Tại sao cuối tuần tôi phải đi siêu thị với em? Tại sao tôi phải mất thời giờ và công sức để quan tâm đến cái sự học của em? Tại sao tôi muốn em làm việc có phương pháp? Tại sao tôi muốn em có sức khỏe tốt? Tại sao? Tại sao?











Mùa đông cô đơn Sau sự kiện “đau lòng” đó, Kim luôn tự hỏi “Tại sao và tại sao?”. Vì cớ gì Fernando lại hết lòng vì cô đến thế? Chẳng phải anh yêu đương hay muốn tán tỉnh gì. Kim cũng từng được nhiều đối tượng đeo đuổi nhưng chưa có nhân vật nào quái chiêu như vậy. Ở Việt Nam, người ta ca ngợi, khen tặng, ngưỡng mộ Kim bao nhiêu, ở đây Fernando không tiếc lời la lối, xỉ vả, mạt sát, lăng nhục cô bấy nhiêu. Chẳng bao giờ Kim thấy Fernando nhìn mình dịu dàng, lúc nào anh cũng chằm chặp chiếu tướng cô bằng “cặp mắt mang hình viên đạn”. Trong đời chưa bao giờ Kim sợ ai đến như vậy dù gia đình cô cũng rất nghiêm khắc. Đau nhất là có hôm Fernando còn đem cả dân tộc Kim ra trêu cợt: “À thì ra, sinh viên Việt Nam là vậy đó! Học thì tệ, ngủ thì nhiều mà lúc nào cũng xin được học bổng của chính phủ nước giàu!”. Kim giận run, nín khóc: “Anh không được phép nói động đến người Việt Nam!”. Fernando nhún vai khinh bạc: “Ai cấm được tôi, tôi thấy sao thì nói vậy. Mà em có cấm tôi thì cũng còn những sinh viên khác trong lớp nhận thấy điều này, rồi các giáo sư nữa. Vậy mà thầy Baddley nói “Cô Kim đó đến từ một nước anh hùng, dân tộc đó tuy nhỏ nhưng chiến thắng được bao nhiêu là kẻ thù xâm lược”. Vậy mà... - Fernando lắc đầu ngao ngán - có mỗi “giặc buồn ngủ” thôi mà cũng chịu thua!”. Hận người, giận mình, Kim mất hết lý trí cầm dao trên bàn học lăm lăm chĩa về phía Fernando: “Anh có nghĩ tôi dám giết anh không?”. Fernando mặt lạnh như tiền vừa mở cửa phòng bỏ đi vừa nói: “Ruồi còn không đủ sức đập nữa là giết người!”. Bọn sinh viên đứng đầy ngoài hành lang há hốc miệng thấy Fernando khinh khỉnh bước ra, theo sau là Kim mắt mũi tèm lem, lăm lăm cây dao nhựa rọc giấy. Anh chàng Mauricio người Chilê ở phòng đối diện chép miệng: “Trời! Hai người này sao cho xem tấu hài hoài vậy không biết!”. Thúy Hà cười lớn nhất: “Yêu nhau lắm giết nhau thôi!”. Tưởng rằng đến nước này thì chẳng mặt mũi nào nhìn nhau, vậy mà sáng sớm hôm đó, khi Kim mặt bừng bừng vừa chạy vừa thở phì phò quanh khu học xá, cô chợt nghe tiếng “nâng cao đùi” quen thuộc sau lưng. Xong phần tập thể dục, Fernando còn đòi hộ tống Kim trực tiếp đến thư viện thay vì để cô tự đi như thường lệ. Kim không thèm đáp. Cô bỏ vào nhà tắm, đứng dưới vòi sen suy nghĩ không biết anh muốn gì. Chẳng dám nhìn cái giường, Kim đeo túi, xách dù, chạy ra bến xe bus. Fernando vẫn đứng chờ trước khu học xá, anh đưa tay chặn Kim lại, mời lên chiếc xe hơi đang mở rộng cửa. Không thèm nhìn Fernando, Kim hung hăng gạt tay anh ra, dợm bước về phía trước. Fernando kêu lên: - Sao? Có cần thiết phải cực đoan một cách xuẩn ngốc như vậy không? Sao lại phải chờ mất thời giờ ở trạm xe bus khi có xe hơi chở đi? Thời giờ quí báu đó để dành đọc thêm một chương sách phải ích lợi hơn không? Kim không đáp, mắt ánh lên tia hằn học. - Người khôn ngoan - Fernando đều giọng - hơn người dại ở chỗ biết tận dụng những cơ hội đến với mình hơn là chỉ lo chìu lòng những cơn tự ái hão vô bổ! Kim khựng người, đấu tranh tư tưởng vài giây rồi “nuốt nhục” chui vào xe, người nóng hừng hực như lên cơn sốt chỉ với một ý nghĩ trong đầu “Sẽ trả mối thù này!”. Bên cạnh cô, Fernando đang khởi động xe, miệng nở một nụ cười “bề trên” biết tỏng cô nàng hận mình ngút trời mây nhưng chẳng thể làm được gì. Đến giữa mùa đông, gần Giáng Sinh trường cho nghỉ, Kim tranh thủ sang miền bắc nước Pháp thăm gia đình người dì. Lần đầu tiên trong đời cô nhìn thấy tuyết. Những bông tuyết xốp rơi rất dày, phủ trắng xóa đường phố và những mái nhà bạc đầu. Nhiệt độ ban đêm có khi xuống dưới mười độ. Nằm trên chiếc giường nệm, đắp tấm mền dày sụ và lò sưởi bật đến mức tối đa nhưng Kim vẫn không ngừng rên rỉ. Cô mặc mấy chiếc áo len, hai cái quần thun và mang những ba đôi vớ mà chưa thấy ấm. Kim phải đắp mền kín mặt vì không khí lạnh tràn vào mũi không thở được, làm cóng tai và đôi gò má như mất cảm giác. Sáng tám giờ trời vẫn còn tối mịt, những bồn hoa trước nhà bị đóng băng trông thật tội nghiệp. Kim nhìn những ngọn cỏ héo úa bị băng cầm tù, thấy mùa Đông thật kinh khủng. Một con vật nhỏ nào đó chạy ngang hiên nhà để lại vết chân ngộ nghĩnh bị lún sâu hun hút. Lũ trẻ con thấy tuyết rơi dày đến gần hai mươi centimét bèn rủ Kim cùng làm ông già tuyết. Kim mang đôi giày không đủ ấm nhưng mê tuyết nên chạy nhảy và lăn lộn trên đó cùng đám em họ. Mọi người hồ hởi nhìn thành quả cao gần hai mét, có mũi bằng cà rốt, mắt nạm khoai tây, miệng đỏ rực của cà chua và trên đầu đội cái nồi kim loại bóng loáng. Chừng mười hai giờ mặt trời lên làm tuyết tan chảy ra thành băng, Kim dù đã cố cẩn thận cũng trượt té vài lần làm lũ trẻ bật cười ra khói. Dân bên đây mang giày đinh hoặc đeo một dạng “bàn chông” vào giày mới mong không trượt ngã. Càng gần đến Giáng Sinh tuyết càng rơi rất dày, đến nỗi sáng nào đi làm dượng của Kim cũng phải nhờ mọi người lấy xẻng xúc bớt tuyết dọn đường cho xe hơi ra. Đến tối đi làm về dượng lại phải quấn dây xích vào bánh xe phòng tuyết tan thành băng làm đường trơn trợt sẽ dễ lạc tay lái. Kim nhìn người dượng tóc bạc trắng dù mới trên năm mươi, mỗi ngày đi làm đều là cực hình vì dượng phải lái xe đến hơn năm mươi cây số đến sở làm. Buổi tối nếu dượng về trễ một chút mọi người đều nhấp nhổm. Kim rên với dì sao cuộc sống bên đây cơ cực quá, dì cô cười buồn vẻ chịu đựng: “Có việc làm là may, thất nghiệp còn chết nữa! Sống ở đây yên tĩnh quá, chỉ là một ngôi làng tỉnh lẻ trên đồi cao. Hồi mới qua nhiều lúc nhìn tuyết trắng xóa chán muốn…tự tử. Gởi hình về Việt Nam ai cũng khen “Tuyết đẹp quá!” mà dì muốn khóc thét lên”. Kim chép miệng như một bà cụ non, an ủi: “Thôi thì sống ở đây cho tương lai tụi nhỏ”. Dì lắc đầu mệt mỏi: “Bên đây bây giờ không an ninh, tụi nhỏ dễ bị bắt cóc, bạo hành, làm nhục. Tụi nó tự lấy xe bus đi học, làm gì có thời gian đưa rước. Đường sá thì hoang vắng, đi lẻ loi một mình dễ bị tấn công. Thôi, sống đâu thì quen đó, chỉ mong bên nhà đừng “trông chờ” nhiều vào Việt kiều nữa!”. Dì Kim muốn cô ở lại đón Giáng Sinh nhưng cô thấy sốt ruột. Có một sợi dây vô hình nào đó kéo cô phải quay lại Oxford. Dì thở dài nhờ dượng lái xe đưa cô ra ga trước khi đi làm. Kim đành phải đi chuyến sớm lúc mới sáu giờ ba mươi. Lên tàu rồi cô lại tiếp tục ngủ vì trời vẫn đang tối mịt như đêm ba mươi. Đến gần chín giờ trời dần sáng để lộ khung cảnh bên ngoài đang phủ tuyết trắng xóa. Kim ngỡ ngàng nhận ra tàu đang đi qua những ngôi làng nằm dưới thung lũng, những cây thông chóp nhọn và các mái nhà nhỏ xinh đều phủ một màu tuyết trắng rất dày. Những làn khói xám nhẹ nhàng tỏa ra khỏi những căn nhà be bé. Hẳn người ta vừa thức dậy khơi lò sưởi cho một ngày mới, nhiều ấm áp và thanh thản. Thung lũng nối thung lũng, làng tiếp làng, những mái nhà phủ tuyết trắng nhấp nhô, vài ngôi giáo đường vương cao tháp chuông cũng đắm mình trong màu trắng mùa đông. Kim ngỡ mình đang lạc vào xứ thần tiên của một thời thơ ấu, đọc truyện cổ Andersen với “Bà chúa tuyết” hay “Cô bé bán diêm”. Thật lãng mạn cho những gì đang trải ra trước mắt, đẹp lặng người và cảm thấy thật bình an như khi cầm một tấm thiệp Giáng Sinh vẽ những ngôi làng nhỏ xinh đắm chìm trong tuyết. Nhưng Kim biết, cuộc sống không như những chuyến tàu chỉ chạy vút qua và mùa Đông không bao giờ được chờ đón. Khi Kim quay lại Anh, tuyết vẫn chưa rơi dù trời rét đậm hơn. Anh là một hòn đảo nên thường tuyết rơi trễ hơn rất nhiều so với những nước châu Âu khác. Sự trở về gấp gáp của Kim trở nên vô ích khi cô biết rằng Fernando đã về Bồ Đào Nha. Bọn sinh viên trong khu học xá phần đông đã quay về nước đón Noel với gia đình, còn lại một nhúm quê bên Châu Mỹ hay Châu Á quá xa không về được cũng bị cảm cúm sụt sịt hết. Nỗi thất vọng và không khí “bệnh hoạn” làm Kim gục ngã, cô lên cơn sốt, nằm li bì chẳng thiết ăn uống. Mùa đông quả thật khắc nghiệt, Kim nghĩ nếu mình vẫn ăn uống theo kiểu cũ và không tập thể dục chắc đã “ngủm” thật rồi. Cả đám bệnh hoạn phải thay phiên nấu súp rồi cùng động viên nhau ăn. Thúy Hà trở nên dịu dàng, tình cảm với Kim hơn khi cô ốm, thậm chí chị còn nấu cháo hành nóng cho Kim nữa. Dạo này Thúy Hà đã chính thức cặp bồ với Jean Louis người Pháp, cả hai nói tiếng Anh ẹ như nhau nên có lẽ vì thế hút nhau ở chỗ khác. Giáng Sinh Jean Louis cũng về thăm gia đình bên Pháp nên Thúy Hà có vẻ rất cô đơn. Sang đây với mục đích chính là tu nghiệp nhưng do kém ngôn ngữ, Thúy Hà tối ngày chỉ lên trường viết email và “chat” thêm một chặp rồi bỏ về đi shopping. Kim vốn không ưa cô bạn đồng hương nhưng trong lúc bệnh hoạn có người chăm sóc cũng thấy ấm lòng, cô cố nuốt chén cháo hành mà cổ họng bỏng rát như có gai cào. Kim bị viêm họng khá nặng. Thúy Hà thân tình hỏi: “Fernando đâu? Sao không đến chăm sóc em? Bình thường mê nhau lắm mà!”. Kim thở khó nhọc nhún vai không biết trả lời thế nào. Cô nghĩ có giải thích kiểu gì Thúy Hà cũng không chịu hiểu giữa cô và Fernando chỉ là chuyện học hành. Trong khi bọn Tây nhìn sơ đã biết Fernando chẳng “xơ múi” được gì. Kim nghĩ anh mà biết cô bệnh chắc còn la lối thêm vì cái tội mang đôi giày mỏng dính đi trên tuyết. Nhiều lần Kim định đến phòng khám bác sĩ nhưng cô chưa có thẻ bảo hiểm y tế, khám bệnh bên Anh rất đắt, tiền mua thuốc cũng không tưởng tượng nổi. Cô biết bị viêm họng phải uống kháng sinh mà kháng sinh không có toa bác sĩ không nhà thuốc nào chịu bán. Cuối cùng suy tính thiệt hơn, Kim đành “nuôi bệnh” hy vọng tự khỏi. Khi Fernando từ Bồ Đào Nha quay lại, anh bất ngờ đến khu học xá tìm Kim mà không báo trước. Nhìn Fernando khỏe mạnh, ánh mắt sáng rỡ, tràn đầy sinh lực, Kim càng cám cảnh cho thân mình. Anh nhíu mày nhìn cô ho khúc khắc, ốm quặt quẹo, mặt mày bơ phờ: - Sao đến nông nổi này? Mà phòng em có mùi gì ngộp thở quá? - Bệnh! – Kim đáp cụt ngủn, lòng tủi thân vô hạn – Mùi dầu gió châu Á đó! - Tại sao bệnh? - Fernando hất mặt hỏi - Đi bác sĩ chưa? - Tại vọc tuyết! – Kim lào khào trả lời thành thật – Chưa được tổ chức cấp học bổng phát thẻ bảo hiểm nên không dám đi bác sĩ, sợ không có tiền trả! Fernando quát: - Phải biết thân biết phận chứ, đã yếu mà còn không tự chăm sóc! Sức khỏe là trên hết, sao bệnh lâu như vậy mà không đi bác sĩ khám? Em đừng có nói thiếu tiền nghe, tiền em đầy nhóc trong tài khoản, tại em keo thì có! Nếu đã lỡ keo kiệt thì làm ơn thông minh hơn một chút đi, sao không gọi cho tôi? Kim bắt đầu nổi điên: - Ai biết anh ở đâu mà gọi? Anh về Bồ Đào Nha vui vẻ với gia đình có để lại cho tôi số điện thoại đâu? Lúc anh đang ăn uống sung sướng với cha mẹ thì tôi nằm rên hừ hừ cô đơn ở đây. Tôi đang bệnh mà anh còn la lối vậy đó hả? - Điện thoại di động của tôi nhận được ở khắp Châu Âu. Và tôi cũng check email mỗi ngày, sao không viết cho tôi? – Fernando cố dịu giọng lại nhưng không thể không than vãn – Trời ơi, sao mà có người khờ khạo dữ vậy nè! - Tôi không “khờ” sao để bị anh “đàn áp” chứ! – Kim nén cảm giác tủi thân quắc mắt “trả miếng” – Tôi mà “khôn” thì anh chết với tôi lâu rồi! Đồ tàn ác! Fernando bật cười: - Không biết ai ác hơn ai. Đang bệnh mà còn bày đặt hăm he tôi nữa! Kim ấm ức: - Đáng lý anh về Bồ Đào Nha cũng nên gọi cho tôi chúc một câu “Giáng sinh vui vẻ” hay “Năm mới hạnh phúc”. Trong lúc anh hưởng không khí sum họp với gia đình cũng nên tội nghiệp cho cảnh cô đơn của tôi ở đây chứ! Anh có biết là lần đầu tôi xa nhà không? - Đêm Giáng sinh và giao thừa tôi có nhớ đến em – Fernando có vẻ lúng túng trước lời trách móc nhưng cố pha trò – Nhưng tôi ngại em nghe giọng tôi rồi nhớ tôi quá, học hành không vô thì chết. - Phải! Tôi nhớ cái giọng la lối quạu quọ của anh đó – Kim vừa ho vừa lào khào nói – Có người la lối còn hơn chả có ai ngó ngàng đến! Fernando cười lớn rồi lôi Kim đi khám bệnh. Cô dùng dằng không chịu đi, tỏ ý không thèm làm phiền anh nữa. Đợi Fernando quát to đến mức những con bồ câu ngoài cửa sổ giật mình bay vụt lên “Ngoài viêm họng em còn thêm bệnh cứng đầu nữa phải không?”, Kim mới giật nẩy mình chịu líu ríu đi xuống xe cho anh chở đi bác sĩ. Cô tru tréo “Nãy giờ anh cho tôi uống thuốc bổ đủ hết bệnh rồi, còn đi bác sĩ làm chi nữa! Người gì mà không nói được một câu an ủi dịu dàng!” rồi gập người ho một trận tím tái mặt mày. Fernando mỉm cười trêu “Trời phạt!” rồi vội vàng rút khăn tay ra đưa cho Kim hỉ mũi. Anh còn tháo khăn choàng cổ của mình quấn thêm cho cô mấy vòng và cởi áo khoác đang mặc ra choàng lên người Kim. Fernando nhìn cái thân hình bé nhỏ của cô ngập trong mớ quần áo phì cười “Trông em tròn quay giống thằng bù nhìn tuyết!”. Cô không còn hơi sức nào đấu khẩu nữa, nằm ngoẹo đầu lên ghế xe. Fernado phải vươn người qua cài dây an toàn cho Kim, miệng lảm nhảm “Sao số tôi xui quá không biết!” làm cô muốn ngồi bật dậy đập cho anh một phát. Khốn nỗi lực bất tòng tâm nên cuối cùng Kim chỉ có thể nằm im như một con mèo ướt giương cặp mắt lờ đờ bệnh hoạn nhìn “kẻ thù” mặt hồng hào, khỏe mạnh, vừa huýt gió vừa lái xe chở mình đi bác sĩ. Ở phòng khám, Fernando khai mình là “người đỡ đầu” của Kim. Trước mặt bác sĩ, anh trở nên cực kỳ dịu dàng với cô. Thậm chí Fernando còn dám tỉnh bơ vuốt tóc Kim: “Cô bé này vốn thể chất yếu mà lại có tâm hồn nghệ sĩ, thích lang thang trong tuyết thật lãng mạng nên mới bị cảm nặng như vậy”. Bác sĩ kê toa cho cô dùng nhiều loại thuốc, Kim nhìn cái danh sách dài ngoằng mà hồi hộp lo cho số tiền phải trả. Thật bất ngờ, Fernando trả tiền khám bệnh cho Kim rồi dìu cô đi ra như thể cô sắp quị đến nơi. Ra khỏi cửa, Kim vùng khỏi vòng tay của Fernando rồi liếc anh sắc lẻm dù giọng vẫn còn lào khào: “Tôi sẽ trả tiền khám bệnh lại cho anh”. Fernando cười khinh khỉnh đẩy Kim lên xe: “Thôi khỏi! Keo kiệt như em nên mới chịu đựng bệnh hoạn cả mười ngày nay, giờ em phải trả tiền khám chắc tiếc đứt ruột còn bệnh nặng thêm!”. Kim nhún vai: “Biết vậy hả? Vậy thì cảm ơn, không ngại ngùng gì hết!”. Fernando lắc đầu cười như mếu: “Tôi vẫn luôn ao ước em hiền dịu hơn một chút! Hy vọng em chỉ là trường hợp cá biệt của phụ nữ Việt Nam”. Kim nhìn Fernando lạnh lùng: “Tôi cũng luôn mong anh chỉ là trường hợp “đột biến gen” của đàn ông Bồ Đào Nha”. Fernando bật cười lớn: “Thôi đừng nói nữa để yên tôi lái xe! Càng bệnh càng dữ! Không lẽ bệnh viêm họng có liên quan gì đến bệnh “dại” mà y học chưa phát hiện ra?”. Về đến khu học xá, Kim mở dây an toàn rồi quay sang Fernando lạnh lùng: “Dù sao cũng cảm ơn đã chở tôi đi bác sĩ và hào phóng trả tiền cho tôi. Tôi tự đi lên phòng được rồi, không cần đưa đâu. Anh về đi!”. Fernando giữ tay Kim lại: “Khoan! Trả khăn choàng và áo khoác lại cho tôi! Nếu không tôi mà bệnh thì cả hai ta đều chết vì em thì làm sao có thể chở tôi đi bác sĩ và lại càng không có thiện chí trả tiền khám bệnh cho tôi!”. Kim hơi ngượng, cô tháo đồ ra trả cho Fernando, miệng lầm bầm: “Chính anh quàng vào người tôi mấy cái thứ bốc mùi này!”. Fernando quắc mắt: “Nè! Vừa phải thôi! Mẹ tôi vừa giặt đó! Chính em mới đang có cái mùi dầu gió châu Á kỳ lạ, làm bám hết lên đồ của tôi rồi!”. Kim ngượng quá định nói gì đó cãi lại nhưng một cơn ho vô duyên ập đến làm cô gập người sù sụ. Fernando nhìn Kim vừa tội nghiệp vừa cười kẻ cả “Tôi đã nói là đừng có dữ mà!” rồi chồm người ra băng ghế phía sau lấy cho Kim một gói quà. Kim ngơ ngác: “Gì đây?”. Fernando nháy mắt: “Quà năm mới, một loại bánh ngọt của Bồ Đào Nha. Ho như vậy chắc ăn không được đâu. Nhưng thôi cứ đưa cho em, nếu không em lại trách không nghĩ gì đến em!”. Kim bất ngờ và xúc động không thốt nên lời, cô giả bộ tiếp tục ho. Fernando nhìn Kim đóng kịch với những cơn ho, cười cố nén rồi vòng qua mở cửa xe cho cô: “Thôi lên phòng nghỉ đi! Tôi đi ra pharmacy mua thuốc cho em xong sẽ mang lại cho”. Rồi Fernando nhìn vào mắt Kim: - Mẹ tôi làm ổ bánh này đó. Còn tôi thì có công bê lên máy bay đến tận đây. Ngon lắm nhưng để lâu không được. Em đừng mời tụi bạn trong khu học xá nghe, ngày mai tôi đến dạy em tôi ăn dùm cho. Rồi năm sau tôi nói mẹ tôi làm cho em cái khác! Fernando nói xong ôm bụng cười khi thấy Kim cầm gói quà mà mặt mày bí xị: “Em ráng dễ thương một chút đi! Rồi kỳ nghỉ Giáng sinh năm sau tôi hứa sẽ ở bên em!”. Kim vừa đi lên lầu vừa làu bàu: “Năm sau tôi về Việt Nam rồi! Ai cần anh nữa!” Dù nói thế, Kim biết cô cần Fernando kinh khủng, nhất là trong mùa Đông giá lạnh này. Mùa Đông ở đất nước sương mù thật thê lương. Trời lúc nào cũng âm u, tuyết bắt đầu rơi khi ở những nước Châu Âu khác trong đất liền đã trở nên ấm áp. Oxford phủ một màu trắng u buồn với những mái vòm cao vút đầy tuyết đứng chênh vênh. Những ngôi trường cổ kính càng thêm giá lạnh với những bức tường đá xám lại và các cánh cửa gỗ trầm mặc cô đơn. Mọi người hạn chế tối đa việc đi ra đường. Kim viện cớ mới hết ốm để khỏi lên thư viện học, cô trốn biệt trong phòng, đến mức không đi siêu thị phải nhờ mấy đứa chung nhà mua đồ ăn dùm. Không biết đứa nào “mách lẻo”, Fernando đến la lối um xùm “Phải đi ra ngoài cho quen với thời tiết, em định làm con gấu ngủ Đông suốt ba tháng sao?”. Anh lôi cô ra ngoài dù chẳng biết sẽ đi đâu, nhiệt độ đang ở mức không độ lúc ba giờ chiều. “Chúng ta không đi xe hơi – Fernando cảnh báo – Đi bộ thế này vào trung tâm”. Kim đội nón len như mấy ni cô ở Việt Nam để che hai tai lại mà vẫn có cảm giác tai đông cứng đến gần rụng. Cô nghĩ mình trông “kỳ cục” với cái nón len che sùm sụp nhưng ngoài đường ai cũng trùm đầu lại bằng đủ thứ nón mũ và khăn choàng che kín mũi. Fernando trông cũng kém đẹp trai với cái nón len dày cui như thầy chùa nhưng Kim không còn hơi sức đâu mà cười cợt, cô xuýt xoa với đôi tay lạnh cóng dù đã mang đôi găng bằng da cực dày. Mọi người cúi đầu tránh những con gió rét mướt tạt vào mặt, ai cũng đi lom khom bằng những bước ngắn nhưng lại có vẻ vội vã như đang chạy. Ở bến xe bus không ai đứng yên được một giây, cứ phải chạy tại chỗ cho cơ thể vận động liên tục. Kim thấy mấy bà già lụm cụm tám chín chục tuổi tội nghiệp chống gậy dấn từng bước khó nhọc trong làn gió tê tái. Đột nhiên có bà đánh rơi túi đựng cam. Bà già mặc đồ lùm xùm, đi đứng đã khó khăn nên nhìn mấy trái cam lăn lông lốc ra vỉa hè lúng túng không biết xử lý ra sao. Fernando và Kim cúi xuống giúp, lúc Kim đưa vào tay bà túi cam, cô cám cảnh hỏi: “Sao mấy bà ra đường làm chi vào thời tiết này? Cần mua gì thì nhờ hàng xóm giúp cho!”. Mấy bà lão bật cười, họ đồng thanh nói cô bé này đúng dân châu Á mới sang Oxford học. Bên đây không ai giúp ai cái gì, vả lại mấy người già càng cần phải ra đường mỗi ngày. “Chúng tôi mà sợ rét trốn biệt trong nhà thì chân tay cứng đờ cả lại. Đến mùa Xuân trời có ấm hơn nhưng do suốt mấy tháng mùa Đông không vận động, chúng tôi sẽ bị liệt hết. Chúng tôi phải cố gắng, mỗi ngày đều phải cố gắng với những khớp xương đau nhức này. Càng già càng phải chiến đấu với mùa Đông, phải tự cứu mình trước khi trời cứu, cháu ạ!”. Xe bus đến, mấy bà khó nhọc lục tục leo lên. Kim chạy đến đỡ nhưng họ cười đẩy cô ra: “Để chúng tôi tự lực, cô bé!”. Những hành khách khác kiên nhẫn đứng chờ dù ai cũng nóng lòng được sớm chui vào xe bus ấm áp. Kim cũng định bụng leo lên nhưng Fernando giữ tay cô lại “Tôi đã nói là chúng ta đi bộ mà!” Kim gục đầu cắm cúi bước. Những viên đá lót đường trơn trợt làm cô loạng choạng chợt ngã mấy lần. Fernando không đưa tay ra đỡ, nếu anh có đưa tay hẳn Kim cũng không thèm vịn lấy. Cô xấu hổ thấy mình không bằng mấy bà già mỗi ngày phải chiến đấu với những khớp xương rệu rã trong cái lạnh khắc nghiệt mùa Đông. Càng đi Kim càng thấy ấm hơn, vào đến trung tâm rồi cô cũng không biết Fernando sẽ đưa mình đi đâu. Cô cố gắng kiên nhẫn không chịu hỏi, đến khi thấy hai người cứ đi vòng vòng ngang qua chỗ cũ đến ba lần, cô đứng lại, thở một hơi dài làm khói bốc lên tận đỉnh một ngôi giáo đường: “Fernando, anh giỡn mặt với tôi hả?”. Fernando cả cười: “Mệt rồi sao? Thôi thì vào đây uống trà! Tôi chỉ muốn luyện cho em đi bộ trong mùa Đông thôi”. Hai người vào một tiệm trà ấm cúng, Kim đuối sức vì “hành trình” hai cây số dưới trời giá rét nên giận dỗi dán mặt vào cửa sổ nhìn ra ngoài để mặc Fernando gọi trà nóng và mấy loại bánh ngọt. Trong tấm kính cửa sổ, cô thấy hình ảnh phản chiếu Fernando đang khoan khoái pha sữa vào trà rồi ung dung ăn hết cái bánh chocolat này sang cái bánh nhân táo khác. Cuối cùng không chịu nổi mùi trà nóng ấm áp pha sữa thơm lừng và hương bánh ngọt ngào ngạt, Kim quay lại nhìn Fernando trách móc: “Không mời tôi ăn hả?”. Fernando tỉnh bơ nhìn dĩa bánh đã hết veo và bình trà cũng kịp cạn, liếm môi thòm thèm nói: “Tưởng em thích nhìn đường phố hơn. Chắc mình gọi thêm bánh, em có cần tôi đút tận miệng không?”. Lần này trà vừa kịp đem lên Kim đã hối hả pha cho mình một cốc đầy rồi đổ sữa vào đục ngầu cả lên. Cô vừa thổi vừa uống, lắng nghe thứ chất lỏng ấm áp đang lan tỏa vào từng tế bào lạnh cóng của mình. Dân Anh có lối uống trà sữa vào mỗi buổi chiều thật đặc trưng chắc cũng do trời rét quá cần nạp nhiều năng lượng. Họ ghiền trà sữa và không bỏ được thói quen uống trà vào mỗi chiều, như dân Việt Nam không bỏ được giấc ngủ trưa dù cuộc sống có trở nên bận rộn bao nhiêu. Sinh viên nước ngoài đến Anh cũng dần bị trà sữa mê hoặc và thấy mỗi buổi chiều lạnh cóng bên ly trà pha sữa ấm sực là thời điểm thật “thiêng liêng” trong ngày. Kim đang đói bụng nên chộp lấy cái bánh kem chocolat người phục vụ vừa đem đến rồi đưa lên miệng nhai ngấu nghiến, không thèm bỏ ra đĩa lấy muỗng xúc dịu dàng như mọi người xung quanh. Đến lúc thấy Fernando nhìn cô chằm chằm rồi chép miệng than “Đi với em tôi xấu hổ quá!”, Kim mới chợt giật mình. Cô vội vã liếm mép và mút những ngón tay dính đầy chocolat như một con mèo nhỏ lem luốc. Fernando nhăn mặt rút khăn tay ra đưa, Kim từ chối “Tôi có khăn giấy, anh thọt tay vô túi áo tôi lấy ra dùm”, nhưng anh đã cầm tay cô lên lau chăm chú và tiện thể chùi cả miệng vẫn còn sót một miếng bánh to tướng trong đó. Kim nhìn chiếc khăn trắng tinh bị dây bẩn bằng những vệt chocolat, xấu hổ và tức giận: “Hình như lúc nào anh cũng làm tôi trở nên... không ra thể thống gì?”. Fernando lạnh lùng: “Thôi ăn nhanh đi rồi về. Tôi không có thời gian ở đây với em suốt buổi chiều đâu!”. Kim thở hắt ra: “Nếu bận anh đi trước đi, không lẽ tôi không biết đường tự về nhà mình”. Fernando đứng dậy, anh nói mình sẽ trả tiền nên cô cứ ngồi lại ăn thong thả, nhớ lúc về cũng cố gắng đi bộ chứ đừng leo lên bất kỳ chiếc xe bus nào. Fernando đi rồi Kim mới thấy có một người ngồi kế bên dù “khắc khẩu” nhưng ấm cúng hơn rất nhiều, ngoài trời tuyết lại rơi đợt mới. Cô nuốt tiếp cái bánh còn lại một cách khó nhọc, uống tách trà sữa đã nguội lạnh rồi nặng nề khoác áo, thở dài nghĩ tới đoạn đường quay về trong thời tiết khắc nghiệt. Cô nghĩ mình không việc gì sợ Fernando đến mức phải lê gót dưới tuyết khi xe bus cứ hai phút lại tấp vào, nhưng rồi nhớ đến mấy bà già cố gắng vận động, Kim đành cắm cúi bước đi cho nhanh. Trời càng lúc càng rét, tuyết rời dày hơn, gió thốc mạnh hơn. Kim ghì tấm khăn choàng quấn kín trên đầu, một tay đút sâu vào túi áo khoác, dấn bước khó khăn. Một viên đá lót đường trơn như mỡ làm cô trượt một cú hai chân giơ bổng lên suýt ngã bật ngữa ra sau, đột nhiên có ai đó bất ngờ chụp Kim lại vào phút cuối. Vừa kịp hoàn hồn, Kim giật nẩy mình nhận ra đó là Fernando: “Anh theo dõi tôi hả?”. Anh không trả lời, đều giọng đề nghị: “Có muốn dựa sát vào người tôi không? Như thế sẽ ấm áp hơn, không bị trợt ngã nữa và quãng đường đi sẽ ngắn lại!”

 

 

 

 

 

 

 

 

 



 

 


Thành công bước đầu



Dù chậm chạp so với sự mong đợi mỏi mòn của Kim, mùa Đông rồi cũng dần ra đi. Tuyết bắt đầu tan, nhỏ những giọt nước lạnh cóng từ trên mái vòm chạm khắc cầu kỳ của những ngôi trường cổ kính xuống vài người khách bộ hành đang rảo bước.
Những bức tượng đá “đội mũ trắng” suốt bao nhiêu ngày giờ bắt đầu rũ tóc, những dòng nước rỉ rả thay phiên nhau chảy xuống mũi, xuống cằm trông ngộ nghĩnh làm sao.
Lũ sinh viên lại đem xe đạp ra vi vu ở những đoạn đường khô ráo. Nhiệt độ dần dần nhích lên, gió hết mạnh, trời bớt âm u.
Một buổi sáng thức dậy, Kim chợt nhận ra mặt trời lên sớm hơn thường lệ. Nhìn ra cây cỏ bên ngoài, chồi non đang nẩy mầm, hoa hé nụ e ấp, cảnh vật xinh tươi mơn mởn. Bên kia đường, hàng cây phong cổ thụ đã có những chiếc lá xanh non nhú ra khắp lượt. Kim cột dây giày, hăm hở chạy vài vòng quanh khu học xá. Giờ Fernando chẳng cần “áp giải” cô nữa. Kim đã khỏe mạnh và năng động hơn, gò má ửng hồng không còn xám ngoét, môi không khô nứt nẻ như dạo trước. Đặc biệt đôi mắt Kim “có thần” hơn, dáng vẻ tự tin, không cúi gằm đầy tự ti như hồi mùa thu mới bên Việt Nam sang. Không có Fernando nhưng giờ con trai trong khu học xá đã bắt đầu hộ tống theo Kim khi cô chạy buổi sáng. Họ nhận ra cô nàng Việt Nam trở nên mượt mà, mắt đen láy, tóc dài cột nhổng năng động, miệng chúm chím hay cười khá có duyên.
Từ dạo Thúy Hà xong chương trình tu nghiệp về nước hồi tháng giêng, Kim lại trở thành Miss Việt Nam trong cộng đồng sinh viên khu học xá ở đây, thậm chí có vài người còn thân thiện gọi cô là Miss Châu Á khi không có Lệ Chi ở đó. Công bằng mà nói, dạo này Lệ Chi xuống sắc thấy rõ. Cô bé mặt bơ phờ do thường xuyên thức khuya, lại tập tành hút thuốc và nốc bia nên càng ngày bọn Tây càng chán. Tụi con gái châu Âu cũng thích ăn chơi, nhưng bọn chúng luôn biết tự chủ. Đa phần đều chơi thể thao và ăn uống cẩn thận. Còn Lệ Chi hẳn bị gia đình kềm cặp từ nhỏ, đến lúc xổ lồng hối hả sống, muốn dừng cũng không kịp.
- Chào Miss Châu Á - anh chàng Mauricio đẹp trai chạy đuổi theo - Hôm nay trời ấm quá!
- Có nắng rồi - Kim hào hứng - Nhưng đừng gọi em như vậy, cho em làm Miss Sài Gòn cũng hân hạnh lắm rồi.
- Ừ, ở Luân Đôn một thời có vở kịch Miss Sài Gòn nổi tiếng lắm đó!
- Lâu lắm em mới lại thấy nắng, nhớ Việt Nam quá!
- Anh cũng thấy nhớ nắng Nam Mỹ quê hương - Mauricio phụ họa rồi ngắt một bông hoa dại bên đường cài lên tóc tặng Kim - Mùa xuân đến rồi đó!
Kim ngỡ ngàng:
- Thật sao? Mùa xuân đến rồi hả?
Ở Sài Gòn với nắng nóng quanh năm, chưa bao giờ Kim thấy được hết niềm hạnh phúc khi mùa xuân đến. Mỗi lần gần Tết, nghe người ta hát “Xuân đã về! Xuân đã về!” bằng một giọng vui vẻ, Kim còn cáu thêm: “Có gì vui đâu, già thêm một tuổi, xuân xiếc cái gì!”. Nhưng sáu tháng nay ở Anh, có trải qua một mùa thu buồn ảm đạm với lá vàng rơi theo những cơn gió cắt da và một mùa đông lạnh khắc nghiệt với tuyết phủ trắng đường, mới cảm nhận được mùa xuân có ý nghĩa đến thế nào. Fernando thường hay động viên Kim: “Ráng đợi đến mùa xuân, khi thời tiết dễ chịu hơn, cảnh vật xinh đẹp lên, lúc đó em cũng sẽ yêu đời hơn, vui khỏe hơn và không còn... bị buồn ngủ nữa!”. Thật chán, anh chẳng phải là một người lãng mạn, Kim đã đợi anh kết thúc câu nói của mình bằng một lời hứa nào đó chẳng hạn như “... và tôi sẽ mời em đi ăn kem rồi hai đứa mình cùng vào rạp xem phim!”
- Kim nè! - Mauricio dừng lại thở - Anh chàng Fernando dở người đó là gì của em vậy?
Kim nhún vai không trả lời. Như chỉ đợi có thế, Mauricio hào hứng nói tiếp:
- Lúc đầu thấy anh ta chăm sóc em tận răng, tụi này cũng nghi là bạn trai. Nhưng rồi thấy anh ta thô bạo quá, chẳng tế nhị hay dịu dàng tí nào với em cả. Anh ta có bao giờ tặng hoa cho em chưa?
Kim ngao ngán:
- Anh ta thiếu điều muốn... tặng em nắm đấm khi em giải sai bài tập. Mà lúc em làm bài trúng anh ta cũng chẳng thèm khen lấy một câu chiếu lệ.
- Ừ! Tệ thật - Mauricio phụ họa - Anh chàng Fernando đó người Bồ Đào Nha, đáng lẽ phải nồng nhiệt như xứ sở đầy mặt trời của anh ta, sao lại lạnh lùng như dân Ăng-lê!
Kim nhìn Mauricio trêu chọc:
- Khác xa với anh! Sưu tầm bao nhiêu cô gái rồi? Đủ mọi màu da phải không?
- Chưa có da vàng! - Mauricio nheo mắt cười tình - Thật đó! Anh không thích Lệ Chi, sẵn sàng ngủ với tất cả mà không cần tình yêu. Cô nàng Yutaka thì như một bà già cằn cỗi. Còn Thúy Hà quả có xinh đẹp nhưng trông “quê quê”.
- Thôi đủ rồi! - Kim bật cười tuy lòng hơi bất mãn trước những nhận xét của Mauricio - Anh nhìn lại mình đi! Làm như “ngon” lắm vậy đó!
Hôm nay Kim có hẹn với giáo sư Baddley nên cô không đứng lại cà kê dê ngỗng với anh chàng người Chi-Lê ăn ớt nhiều hơn két nữa. Cô hồi hộp rảo bước đến trường. Đi ngang qua vườn Bách Thảo, Kim lặng người ngắm những chồi non nhú ra như những bàn tay trẻ con rụt rè và mũm mĩm xòe những búp lá năm cánh. Những nhánh cây trơ trụi suốt Đông giờ đều trổ những chiếc lá đầu tiên. Thiên nhiên thật kỳ diệu, tưởng như mọi cỏ cây đều chết vùi dưới cái lạnh khắc nghiệt bao nhiêu tháng, giờ đây khi thời tiết ấm lên, vạn vật đều hăm hở ngoi lên với sức sống mới. Kim lại xúc động dừng bước bên cầu Magdelen bắc ngang dòng sông Cherwell thơ mộng. Hàng liễu rũ xinh đẹp hai bên sông thay áo màu xanh nõn. Kim bất ngờ chợt nghe tiếng những con vịt xám gọi bầy, chúng cạ những chiếc mỏ bé bỏng vào nhau âu yếm ra chiều vô cùng hạnh phúc. Đôi thiên nga từ đâu lướt đến, rũ đôi cánh trắng muốt và vươn chiếc cổ kiêu kỳ soi mình xuống dòng sông xanh. Một bà mẹ trẻ đẩy xe nôi đi dạo, cánh tay nhỏ xinh của đứa bé huơ lên vui mừng vẫy gọi đám thủy cầm.
Kim ước gì mình có thể đứng lại nhìn ngắm cảnh thanh bình nhưng cô phải tiếp tục đi đến trường. Dân Anh mê những dòng sông nhỏ hay có khi chỉ là con kênh nhân tạo chảy vắt qua thành phố, họ chăm chút trồng hai bên bờ những hàng cây xanh rợp bóng, thả vào đó những con vật dễ thương cho chúng bơi lội và đặt những chiếc xuồng xinh xinh cho du khách dạo chơi. Kim ngậm ngùi nghĩ giá con kênh Nhiêu Lộc của Sài Gòn cũng được đối xử tử tế như vậy, thành phố sẽ nên thơ hơn biết bao và người dân có thể dùng “taxi xuồng” làm một phương tiện giao thông hữu ích và lãng mạn.
Khuôn viên những ngôi trường Oxford cũng trở nên xinh đẹp hơn khi mùa xuân đến. Những chiếc sân vuông của The Queen College, Trinity College, Saint John College… được phủ cỏ xanh nhung mượt, những bồn hoa dọc các lối đi đã được chăm sóc sau những tháng giá Đông, người ta trồng vào đó những cành hồng sặc sỡ, những khóm cúc vàng tươi, hoa tu-líp tím kiêu kỳ. Lũ bướm đủ màu bị mùi hương các loài hoa quyến rũ, bay lượn đầy phấn khích làm bọn chim sâu nức lòng cũng ríu rít véo von. Trước cửa sổ phòng giáo sư Baddley, những cành dây leo đang cựa mình thức dậy, chúng quấn quýt quanh kẽ hở của những viên đá xám lót tường, những nụ hoa rụt rè trổ lốm đốm đỏ trên nền những chiếc lá xanh non… Kim tự nhủ được làm giáo sư dạy trong ngôi trường danh tiếng, có một căn phòng làm việc yên tĩnh trong khung cảnh cổ kính lãng mạng như Baddley, thật hạnh phúc làm sao. Cô đi vòng ra lối hành lang, rụt rè gõ cửa phòng giáo sư. Ông lên tiếng mời cô vào. Kim thấy ông cũng tươi tắn như mùa xuân ngoài cửa sổ. Giáo sư mặc áo sơ mi màu xanh da trời và Kim nhận ra mắt ông cũng tràn ngập một màu xanh yên lành.
Giáo sư nhìn Kim ngạc nhiên:
- Em khỏe không? Tôi thấy em thay đổi khá nhiều đó! Em trông khác xa với dạo trước. Như vậy tôi cũng mừng!
- Thầy... - Kim ngỡ ngàng thấy giáo sư tỏ vẻ quan tâm đến mình nhiều như vậy - Em thấy khỏe lắm. Đặt lưng xuống là em ngủ như chết, còn lúc ăn thì nhiều gấp ba bốn lần so với hồi mới qua.
Giáo sư vui vẻ đổi đề tài:
- Tôi đã đọc đề cương làm luận văn của em. Em đã cố gắng rất nhiều. Em tiến bộ lắm. Em đã đi đúng đường rồi đó!
- Thật hả thầy? - Kim ngộp thở, không tin vào tai mình.
- Coi kìa, phải tự tin lên chứ! Không phải mấy tháng nay em đã nỗ lực hết sức mình đó sao? Em cũng đã hòa nhập được vào không khí học tập năng động và có phương pháp ở đây. Em đã đi một bước khá xa rồi đó!
Kim không đáp nên lời, cô đang vui mừng lẫn tủi hờn nhớ lại những khó khăn trong sáu tháng qua. Cố mím chặt môi nhưng Kim không tài nào giấu được những giọt nước mắt sung sướng đang trào ra. Giáo sư nhìn cô cười hiền từ, ông đột nhiên nháy mắt hóm hỉnh:
- Tôi e rằng có ai đó bày sẵn cho em phải không? Fernando làm dùm em những trang đề cương này chứ gì?
- Không! Không hề! - Kim gần như thét lên, giọng lạc đi vì phẫn nộ - Fernando chưa bao giờ làm bài giùm em, anh ta chỉ ra bài tập và bắt em tự xoay sở một mình.
- Tuy nhiên Fernando cũng bày cho em phương pháp nghiên cứu và cách lập luận?
- Anh ta bắt em làm tới làm lui cả chục lần trước khi nộp cho thầy - Kim sắp khóc òa lên - Lúc thì anh ta chê “phần đặt vấn đề ngây ngô như học trò tiểu học”, lúc lại nhận xét “cách lập luận… ngu thấy mà ớn”, có khi còn... vừa chưởi bới vừa đọc phần kết luận.
Baddley bật cười lớn tiếng:
- Anh ta nghiêm khắc hơn tôi tưởng nhiều quá! Nhưng như thế cũng không vô ích, đúng không?
Kim không biết trả lời sao, cô im lặng gật đầu. Giáo sư chỉ ra cho cô vài chỗ cần sửa lại và kết luận đề cương đã hoàn chỉnh, chỉ cần bám sát đề cương là cô sẽ hoàn thành luận văn một cách tốt đẹp. Tuy nhiên ông cũng ân cần khuyên cô tiếp tục nỗ lực hơn nữa vì trong thời gian làm luận văn cô vẫn phải hoàn tất mấy môn học khác.
- Và chắc là bây giờ em “cứng cáp” rồi – giáo sư nháy mắt – Không cần phải làm phiền Fernando nữa, để anh ta tập trung làm luận án tiến sĩ của mình. Mấy tháng qua Fernando lo kèm cặp em nên có phần lơ là trong công việc.
Kim ngạc nhiên:
- Em đâu có làm phiền anh ta! Chỉ có anh ta làm phiền em thôi!
- Thôi được rồi! – Giáo sư cười, lắc đầu – Thanh niên các em lạ thật đó! Hay là tôi người phương Tây nên không hiểu được văn hóa của em? Nhiều khi người ta cứ nghĩ người phương Tây chúng tôi tự cao tự đại, nhưng tôi lại thấy những dân tộc trông có vẻ hiền lành ở phương Đông lại có một niềm kiêu hãnh thật đáng ngạc nhiên.
Rời phòng giáo sư Baddley, Kim vừa mừng vì đề cương luận văn đã được duyệt vừa thấy bất an vì bị cho là “làm phiền” đến Fernando. Đã vậy còn bị ông thầy ám chỉ gì đó khi nói “người phương Đông có một niềm kiêu hãnh đáng ngạc nhiên”. Kim đi lang thang trong khuôn viên trường một lúc rồi ngồi xuống bên bức tượng điêu khắc của một sinh viên đặt trên cỏ. Bức tượng làm bằng một chất liệu gì đó màu đen, lên nước bóng như đá và có hình thù như một sinh vật đang suy tư trong một tư thế rất vặn vẹo. “Sao mà lúc nào cũng phải mệt óc quá vậy nè! - Kim lầm bầm, vuốt nhẹ tay lên tượng - Nhìn mày thấy đời đáng chán quá!”.
Công bằng mà nói, Fernando đã đổ nhiều công sức cho cô, dành nhiều thời giờ và sự nhiệt tình đến mức cực đoan nhằm giúp cô học tập. Nhưng Kim đâu có yêu cầu anh, đâu thèm làm phiền anh, chính anh tự đến, tự lên lịch học và can thiệp vào cả những chuyện tập thể dục hay ăn uống của Kim. Anh tự làm cho cô ghét dù biết rằng nếu không có anh chắc chắn hôm nay cô không thể được giáo sư Baddley khen ngợi. Điều này cũng đồng nghĩa với việc cô không cách gì hoàn tất nổi khóa Cao học trong một năm và về nước với bằng Thạc sĩ. Suy đi tính lại, từ ngày “gắn bó” với Fernando, Kim không bị thiệt bất cứ điều gì, chỉ “được” mà không “mất”. Thôi thì những lúc bị anh sỉ vả làm lòng tự trọng tổn thương thì đó cũng chỉ là chút “học phí” ít ỏi phải trả cho Fernando so với thời giờ và công sức anh đổ ra. Bên đây không ai cho không ai cái gì; bồ bịch, vợ chồng cũng rạch ròi tính toán chi li. Trong những quán ăn, Kim ngạc nhiên thấy ai cũng phải “tự xử”, không có chuyện nam giới phải trả tiền còn cô người yêu vểnh mặt vô tư. Đôi tình nhân sống chung một phòng cũng phải chia tiền thuê sòng phẳng. Ăn uống, điện nước, lò sưởi cũng chia đều. Đời anh anh lo, đời em em lo, dù có ăn chung bàn hay ngủ chung giường. Bình đẳng tuyệt đối nên tình yêu mới thật sự trong sáng.
Thời gian đầu sang Oxford, Kim hay bất mãn khi thấy con người đối xử với nhau quá rạch ròi. Hôm nay một sinh viên ở chung nhà mượn cô bịch mì spaghetti, ngày mai cô sẽ được trả lại đúng nhãn hiệu này. Thậm chí Kim có vui vẻ cho luôn cũng không ai đồng ý. Chỉ khi nào chủ nhân đem đồ ăn dư xuống bếp và viết giấy ghi rõ “Tự ý dùng” thì mọi người mới dám lấy ăn. Không có chuyện xin nhau dù trái ớt hay củ hành bé nhỏ, càng không nên mượn dùng chung quá thường xuyên những dụng cụ học tập, sách vở hay quần áo như người Việt Nam. Ai cũng có lòng tự trọng từ những chuyện chi li nhất. Trong những buổi họp mặt thì mỗi người làm một món góp vào, ai không được mời thì đừng dẫn xác đến, hoặc nếu có lỡ đến thì nên đi về, cũng chẳng ai giữ lại theo kiểu “thêm một cái chén chứ bao nhiêu”. Sinh nhật hay tiệc tùng nếu chủ nhân mời phải biết đem hoa, rượu, chocolate, trái cây hay một món quà đến. Đi “tay không” sẽ tự thấy xấu hổ và trông mình kỳ cục như… không mặc quần áo. Kim thấy mọi người rạch ròi như vậy đôi khi không được tình cảm nhưng chẳng ai nợ ai cái gì, không ai có thể lợi dụng ai và cũng không người nào cảm thấy bị “chơi gác”. Rốt rồi cô lại thấy câu ngạn ngữ tụi bên đây hay nói “Sòng phẳng làm nên tình bạn tốt” cũng đúng lắm.
Tiền bạc là thứ có thể “tái tạo”, là vật chất có thể trả vay mà tụi Tây còn không muốn lôi thôi nói chi đến thời gian là thứ quí giá vô cùng ở cái nơi luôn phải chạy đua từng giây một. Học phí của Oxford thuộc loại cực kỳ cao trong hệ thống giáo dục thế giới, chỉ có con em dân quí tộc, gia đình quyền thế hay thương gia giàu có mới kham nổi, còn sinh viên có học bổng càng phải cam kết đạt điểm cao nhất trong thời hạn qui định nên không ai muốn mình phải trễ một năm học, phải chậm một học kỳ hay phải nợ một tín chỉ. Tất cả đều được qui ra tiền, lạnh lùng, thật đắt. Chương trình học ở Oxford khá nặng, lại thiên về tự học nên ai cũng tranh thủ tối đa. Tranh thủ vừa ăn trưa vừa đánh máy, vừa đọc sách vừa đi xe bus, vừa đứng chờ máy giặt vừa làm vài động tác thể dục, vừa xem truyền hình vừa làm bếp, thậm chí ở nơi riêng tư tối đa là trong WC mà còn ráng tranh thủ ôm máy tính xách tay đánh lia lịa. Có đứa còn đùa “Ở trong đó sướng lắm, bao nhiêu thứ đều tranh thủ tuôn ra, kể cả ý tưởng”.
Sống ở nơi thời giờ thật sự là vàng bạc, Kim cũng nhiều lần bó tay trước câu hỏi vì sao Fernando tuần nào cũng dành cho cô mấy tiếng đồng hồ quí giá. Trong suốt khoảng thời gian mấy tháng trời từ lúc anh bắt đầu kế hoạch “phụ đạo” cho đến nay, nếu phải trả lương cho một gia sư dạy Cao học, có kinh nghiệm làm trợ lý giáo sư và “thương hiệu” mạnh trong giới Oxford như Fernando, Kim hẳn đã sạt nghiệp không còn một xu dằn trong tài khoản ngân hàng. Đó là chưa kể thời giờ anh làm huấn luyện viên “áp giải” cô chạy bộ, làm tài xế đưa đi bác sĩ, làm bốc vác cho mớ lương thực mỗi tuần đi siêu thị. Lạy Chúa, còn khoản thời giờ Fernando chấm bài tập ở nhà và sửa các tiểu luận vài chục trang cho Kim nữa, càng tính cô càng thấy chóng mặt. Nhưng sự thật là Kim không hề cảm thấy phải nợ nần gì ai và vẫn còn ấm ức bao phen bị anh làm phiền phải khóc lên khóc xuống. Nghĩ được như thế Kim mỉm cười đứng dậy nhưng áo khoác cô bị bức tượng “vặn vẹo” níu lại mạnh đến mức té lăn ra cỏ. Thở dài nhìn khuôn mặt “đăm đăm” của bức tượng, cô thấy cuộc đời quả khó chịu. Giáo sư Baddley đáng kính mà còn nói Kim làm phiền Fernando thì đám sinh viên trẻ người non dạ xung quanh càng cho là cô nhất định phải “ơn nặng như núi” với anh. Cuối cùng Kim quyết định tìm gặp Fernando để hỏi cho ra lẽ “Rốt cuộc ai làm phiền ai?”.
Cửa phòng làm việc của Fernando không khép kín, Kim thấy vài sinh viên nữ đang cười nói vây quanh bàn anh hỏi thăm gì đó. Làn da rám nắng của người đến từ một nước miền nam châu Âu bên bờ Địa Trung Hải, đôi mắt thông minh và cái vẻ nghiêm trang nhưng nụ cười thân thiện của Fernando làm bọn sinh viên bản địa rất hâm mộ. Bọn con gái da trắng như sáp, núc ních và mặt đầy tàn nhang cũng thường kháo nhau Fernando quan tâm đến Kim một cách đặc biệt. Fernando đang từ tốn trả lời từng người. Khi còn lại một mình, anh có vẻ mệt mỏi. Fernando ngáp một cái nghe rõ kêu làm Kim đứng bên ngoài cũng phải giật mình.
- Thì ra anh cũng biết buồn ngủ hả? - Kim bước vô phòng không gõ cửa.
Tiếp tục ngáp thêm vài cái thật thoải mái, Fernando hỏi:
- Tại sao không? Em làm như chỉ có mình em được “độc quyền” khoái ngủ. Giáo sư Baddley nhận xét đề cương tốt chứ?
- Phải! - Kim trả lời vui vẻ - Thầy nói em đã đi được nửa đoạn đường rồi, chỉ cần bám sát đề cương là xong.
Fernando cười chiến thắng:
- Có thế chứ! Thầy tuy đôn hậu nhưng rất nghiêm khắc! Được nghe Baddley khen không dễ đâu!
Kim ngập ngừng:
- Em nghĩ… Em phải cảm ơn anh!
Fernando thôi không ngáp nữa, mặt làm ra vẻ vô hồn vô cảm. Kim kéo ghế ngồi xuống đối diện. Cô nhận ra hiếm có dịp mình được nhìn thẳng mặt anh như thế này. Mắt Fernando màu nâu thăm thẳm với hàng lông mi dài cong vút. Tại sao hồi nào đến giờ Kim chỉ toàn nhìn anh len lén một cách thật tự ti? Rồi thì nếu không giương mắt nhìn căm thù, Kim cũng sẽ nhòe nhoẹt nước mắt trước người con trai sắt đá này.
- Sao lâu quá không thấy anh cười dịu dàng với em? - Kim hỏi, tuy giọng có vẻ châm chọc nhưng thật tình - Em nhớ lần đầu gặp anh, cũng trong phòng này, anh cười tươi ơi là tươi, mắt anh thật sáng. Lúc đó em thấy anh đẹp trai như tài tử Jude Law và dễ thương vô cùng!
- Vậy hả? - Fernando bật cười trước vẻ chân thành của Kim - Thì chính em làm cho anh ra nông nổi này chứ ai! Trước khi gặp em anh “phong độ” bao nhiêu thì bây giờ anh như một thằng xì-ke thế này!
- Anh nói sao? - Kim kinh ngạc trước lời “chụp mũ”.
Fernando tiếp tục “tố”:
- Không phải sao? Trong khi anh ngày càng “thân tàn ma dại” thì em lại “phơi phới” hẳn ra. Không tin lấy gương ra soi đi! Lên ít nhất là ba ký! Thần sắc tươi tắn, da mặt mịn màng! Trời ơi, hôm nay em còn thoa son nữa!
Kim ngượng quá la toáng lên:
- Anh... anh vô duyên quá! Thì ra anh cũng biết quan tâm đến cái đẹp hả?
- Em mới vô duyên! - Fernando nhún vai, giọng khinh khỉnh - Con trai nào không thích nhìn con gái xinh đẹp? Vì vậy anh mới bắt em tập thể dục, ăn cho đủ chất, ngủ cho đúng giờ, làm việc có phương pháp!
- Thôi! Lại bắt đầu lên giọng ta đây! Thì hôm nay em trả ơn!
- Trả cái gì? - Mặt Fernando làm bộ thờ ơ - Phải xứng đáng đó!
- Hôm nay em mời anh ăn tối ở một nhà hàng sang trọng nào đó mà anh muốn. Rồi... rồi... rồi nếu anh thích đi xem phim thì em “đài thọ” luôn.
- Vậy thôi hả? - Fernando ra vẻ thất vọng - Sáu tháng trời đau khổ của anh: không có ngày cuối tuần đi chơi với bạn bè, không có một buổi tối rảnh rỗi xem đá banh trên ti-vi, không có một buổi sáng được ngủ thẳng giấc. Nè, đó là anh chưa nói lúc trước con gái theo anh nhiều lắm, từ ngày thấy anh “o bế” em dữ quá, còn ai dám “nhào vô”!
- Đáng đời anh! - Kim cười nắc nẻ nhận ra hồi nào đến giờ mình đã “trả thù” rồi mà không biết - Vậy nhé, tối này em chờ anh ở khu học xá.






(Còn nữa)
 




Dương Thụy

Oxford thương yêu

Ngỡ ngàng nhập học

Cô gái Việt Nam vô cùng rụt rè xuất hiện trước cửa văn phòng giáo sư Baddley sau tiếng gõ rất khẽ. Anh chàng trợ lý có gương mặt rất sáng, mũi thanh và đôi mắt đặc biệt thông minh niềm nở mời cô vào:
“Tôi tin chắc em là Trần Vũ Thiên Kim - Anh phát âm tên cô một cách vụng về nhưng hoàn toàn duyên dáng - Em học hệ Cao học phải không? Giáo sư Baddley dặn tôi đưa em lịch học và cuốn giáo trình này”.
Kim vụt trở thành một con người khác, cô vui vẻ và dạn dĩ trò chuyện cùng người trợ lý, đôi mắt sáng long lanh nhìn cuốn giáo trình dày cộp đã được photo sẵn:
- Thật không ngờ giáo sư quan tâm đến tôi như thế - Kim siết cuốn giáo trình vào ngực như thể đấy là quyển thánh kinh làm người trợ lý bật cười - Tôi phải gửi lại anh bao nhiêu tiền photo? À mà anh tên gì? Anh có thể cho tôi địa chỉ e-mail không? Tôi xin học bổng ở một tổ chức phi chính phủ, họ chỉ cho học bổng trong một năm nhưng vì sang đây trễ do thủ tục giấy tờ phức tạp, thầy trưởng khoa nói chắc tôi đành phải kéo dài chuyện học trong hai năm. Anh không tưởng tượng được đâu, tôi khổ sở mấy ngày nay...
- Ồ! Tôi tưởng tượng được chứ! Tôi là Fernando Carvalho - Người trợ lý mỉm cười - Tôi cũng là người nước ngoài mà. Tôi đến từ Bồ Đào Nha. Tôi đã hoàn thành chương trình Thạc Sĩ cũng bằng học bổng của chính phủ nước này cách nay vài năm. Rồi giáo sư Baddley nhận tôi vào làm trợ lý chính, giờ tôi đang trong giai đoạn nghiên cứu sinh. Đây là danh thiếp của tôi, em cần hỏi gì cứ tự nhiên nhé.
Dù Kim còn muốn trò chuyện thêm tí nữa nhưng Fernando đã lịch sự mỉm cười tiễn cô ra cửa. Anh nói thêm như vừa chợt nhớ ra: “Em không phải trả lại tôi tiền photo sách đâu, coi như tôi tặng em một món quà nhỏ để chúc em can đảm lên!”. Kim thật sự cảm động, cô lắp bắp cảm ơn rồi bước giật lùi cho đến khi cánh cửa khép hẳn lại và Fernando cùng với nụ cười tươi rói của anh biến mất.
Quả là những phút giây được an ủi sau bao nhiêu sự kiện làm Kim cực kỳ bối rối, đến nỗi gặp ai cô cũng lặp lại điệp khúc: “Tôi chỉ có học bổng trong một năm mà sang đây mới biết chắc phải học những hai năm. Bạn không tưởng tượng được đâu, tôi khổ sở mấy ngày nay...”. Cô thuộc týp người sống cần có người quan tâm và đã đắm mình trong sự yêu thương của gia đình từ bấy lâu nay đến mức gần như không trưởng thành nổi. Hôm qua khi trình diện giáo sư trưởng khoa, Kim bị ông ta phán cho một câu xanh rờn: “Cô sẽ không thể hoàn thành khóa Cao học này chỉ với một năm ngắn ngủi. Thật ra điều này cũng có thể xẩy ra nếu cô đến từ một nước nào đó ở Châu Á có nền giáo dục phát triển như Singapore hay Malaysia. Đằng này cô lại... Đã vậy còn nhập học trễ nữa chứ!”. Rồi khi Kim há hốc mồm ra một cách ngu xuẩn “Vậy... vậy thầy khuyên em phải làm sao?”, ông ta nhấn mạnh “Chuẩn bị tinh thần và tài chính để nếu phải kéo dài sang hai năm thì cũng không bị hụt hẩng!”.
Thấy Kim ngơ ngẩn không buồn trả lời, ông trưởng khoa chép miệng:
- Ở những trường Đại học danh tiếng trên thế giới, đôi khi người ta cũng buộc phải cấp bằng cho những nhân vật đến từ nước ngoài vì lý do ngoại giao hay chính trị. Tuy nhiên tôi không nghĩ cô thích bằng cấp kiểu đó. Cô đã đích thân tìm học bổng sang đây, cô được trường chấp nhận cho nhập học, nên tôi đoán cô muốn có kiến thức thật sự! Thôi cố gắng xoay sở. Tôi thấy không có vấn đề gì!
Kim định nói “Dĩ nhiên, vì đó đâu phải là vấn đề của thầy!”, nhưng ông đã ra dấu tiễn cô với nụ cười nhếch môi vừa lạnh lùng vừa giễu cợt.
Kim từ văn phòng khoa Kinh Tế trên phố Manor buồn bã không muốn quay về khu học xá, cô lang thang vào trung tâm thành phố nơi qui tụ những ngôi trường trực thuộc Đại học Oxford. Sang đây Kim mới ngỡ ngàng nhận ra Đại học thuộc loại lâu đời nhất châu Âu này có đến ba mươi chín ngôi trường độc lập khác nhau gọi là “college”. Mỗi college trông cổ kính và đẹp kiêu hãnh như những tòa lâu đài với những cánh cổng bằng gỗ được chạm khắc công phu và những ngọn tháp vươn cao quyền quí. Sinh viên và cả giáo sư chạy xe đạp luồn lách vào những con đường hẹp hay những con hẻm nhỏ lót đá di chuyển từ college này sang college kia. Kim biết rồi mình cũng sẽ được vào trong những ngôi trường cổ kính này dùi mài kinh sử, cô sẽ không học cố định ở một nơi mà tùy theo từng môn sẽ đến các trường khác nhau. Kim tưởng tượng mình như Harry Potter buổi đầu ngơ ngác nhập học ở trường Phù Thủy, ngôi trường cổ kính với những lớp học bé tí, những cầu thang đá nhỏ hẹp và những hành lang dài vô định. Và quả thật, bộ phim Harry Potter được quay tại những college ở Oxford. Ở ngoài phố, Kim thấy có rất nhiều khách du lịch và những đoàn học sinh được giáo viên dẫn đi tham quan Đại học Oxford. Hẳn họ muốn gieo vào lòng những học trò nhỏ niềm hy vọng được vào học trong ngôi trường danh tiếng này. Cô thở dài, nghĩ dù mình đã được nhận vào học nhưng áp lực lớn nhất là phải đi ra với mảnh bằng tốt nghiệp. Sau này về Việt Nam với cái danh học ở Oxford mà không chìa ra được giấy tờ chứng minh chắc Kim chỉ còn nước bỏ xứ đi luôn.
Buổi tối trong khu học xá, gió gào hú không ngừng, mưa quất từng hạt nặng nề vào kính như thể muốn tìm đủ mọi cách chui vào phòng. Kim bất an chốc chốc lại đến bên cửa sổ nhìn ra ngoài trời đêm. Ánh đèn vàng cao áp đủ cho cô nhìn thấy cây cỏ oằn mình trong gió rét. Suốt đêm Kim cứ trằn trọc với câu hỏi “Làm sao có tiền để ở lại Oxford thêm một năm nữa?”. Cô đã đổ bao công sức để xin được học bổng của một tổ chức phi chính phủ và song song đó phải đáp ứng đủ yêu cầu của Đại học Oxford mới được nhận vào ngôi trường danh tiếng này. Vậy mà không lẽ phải quay về Việt Nam khi chưa hoàn thành chương trình. Bao nhiêu cố gắng lại bỏ phí đi sao? Mộng du học ở Anh đã được Kim ôm ấp hồi còn là học sinh Trung học. Cô luôn cố gắng trao dồi tiếng Anh từ những ngày đó, rồi trong suốt bốn năm Đại học, cô vẫn không ngừng truy tìm học bổng và duy trì điểm số luôn ở mức xuất sắc. Tốt nghiệp ra trường Kim vẫn chưa có cơ hội nên cô lại tiếp tục xoay xở tìm nơi cấp học bổng và xin các trường Đại học chấp nhận. Mãi đến ba năm sau khi tốt nghiệp Đại học, khi đã có một công việc thú vị trong một công ty uy tín, Kim mới hạnh phúc có được niềm vui biến giấc mơ từ thời học sinh thành hiện thực. Đó là cả một quá trình dài phấn đấu và kiên nhẫn không ngừng. Nhưng giờ giấc mơ đó chỉ mới thực hiện được một phần, quan trọng nhất là phải hoàn thành khóa học rất nặng bên đây theo đúng thời hạn một năm.
Gia đình Kim tuy rất quan trọng chuyện học nhưng không đủ khả năng để nuôi cô trong một năm sinh hoạt ở Anh, nơi có mức sống thuộc hàng đắt đỏ nhất thế giới. Lương đi làm của Kim dành dụm được sau ngày ra trường cũng chỉ đủ cho cô mua sắm đồ đạc trước khi sang đây. Gần sáng, Kim tìm ra câu trả lời: “Chỉ có một con đường: bất cứ giá nào cũng phải học xong trong một năm như người ta! Cố gắng hết sức đuổi kịp ba tuần nhập học trễ. Phải làm cho ông trưởng khoa thấy người Việt Nam cũng học hành đàng hoàng không kém ai!” rồi mệt nhoài đi vào giấc ngủ nhiều mộng mị đến mức ngã lăn xuống nền gạch lạnh như băng. Khu học xá đã tắt lò sưởi trung tâm để tiết kiệm nhiên liệu.
x
Oái ăm, buổi học đầu tiên của Kim rơi vào sáng thứ bảy, vào cái ngày mà ai cũng cuộn tròn trong chăn ngủ vùi lười biếng. Ông giáo sư bận quá nhiều việc nên chỉ dạy vào giờ này. Cô khoác áo lạnh dày cộp, ôm cặp, xách dù mò mẫm bước ra đường. Trời hãy còn tối, không một bóng người dù đã bảy giờ ba mươi sáng. Các cửa hàng đóng cửa im lìm chìm khuất trong màn đêm. Kim bước lên xe bus và là người khách duy nhất trên tuyến đường chạy vào trường. Môn này cô học ở một cơ sở hiện đại nằm gần ga, không nằm trong trung tâm thành phố cổ kính. Khi bus dừng thả người khách cô đơn xuống trước khuôn viên khoa, mặt trời cũng vừa hé bức màn dày màu xám ló ra e thẹn. Kim đột nhiên thấy phấn chấn hơn, cô ngước nhìn cảnh bình minh lên với ánh hồng pha cam đẹp lạ lùng rồi mạnh dạn lần đầu bước chân vào giảng đường Oxford, nơi được biết bao người trẻ ao ước. Môn này đã bắt đầu được hai buổi và thu hút khá đông sinh viên nước ngoài. Tụi Ý ăn mặc diêm dúa, một cặp người Nga tóc hung ngồi đầu bàn, ba người nói tiếng Tây Ban Nha, vài đứa sinh viên Anh mặt đầy tàn nhang đang ngáp to như trực thăng kêu. Tất cả đều có vẻ không hài lòng thậm chí là phẫn nộ vì phải đi học vào ngày cuối tuần.
Đúng tám giờ trợ lý Fernando đến phát tài liệu và vào lúc Kim hồi hộp nhất, giáo sư Baddley xuất hiện. Sẽ chẳng bao giờ cô có thể quên giây phút ấn tượng đó, một người đàn ông mập mạp, tóc húi cua, mặc chiếc áo len màu xanh thủy thủ có nụ cười hiền như bụt đang ngồi trên một chiếc xe lăn bằng điện dần dần tiến vào lớp. Giáo sư Baddley trứ danh đây sao? Kim ngỡ ngàng. Ông là người khuyết tật, chiếc xe của ông phát ra tiếng “rè rè” làm cô bối rối. Xe chạy ngang qua chỗ Kim, theo phản xạ tự nhiên cô đứng dậy cúi đầu chào giáo sư kính cẩn. Hành động lễ phép này làm sinh viên trong lớp hơi ngạc nhiên vì bọn chúng vẫn đang vô tư nhai kẹo cao su. Nhưng giáo sư không lấy đó làm lạ. Ông gật đầu chào lại và tiếp tục lái xe tiến đến bàn giáo viên. Sau vài phút hướng dẫn, giáo sư điều khiển xe lui xuống, nhường bục giảng lại cho một sinh viên người Tây Ban Nha. Mỗi người trong lớp phải soạn bài và giảng lại cho các bạn đồng môn. Vai trò của giáo sư chỉ hướng dẫn chung và chấm bài tiểu luận.
Cuối buổi học giáo sư Baddley lái xe lăn đến bên Kim cười đôn hậu: “Em là người Việt Nam phải không? Tôi có nghe thầy trưởng khoa nói về trường hợp nhập học trễ của em. Hiếm khi có sinh viên từ Việt Nam. Cố gắng nhé. Cần gì cứ đến văn phòng của tôi, nếu tôi không có ở đó thì cứ nhờ trợ lý Fernando”. Kim xúc động lí nhí cảm ơn rồi nép người nhường đường cho ông lái xe ra thang máy.
Trời đang mưa. Lại mưa. Những cơn mưa trứ danh của Anh, mạnh mẽ, dai dẳng, rơi mãi không ngừng. Gió thổi những cơn gió rét quất vào mặt Kim thật thô bạo. Cô quấn khăn vào cổ chặt đến mức gần nghẹt thở phải ho khan lên. Tụi sinh viên Oxford thích đi xe đạp và khóa xe đầy đường nhưng Kim biết mình chỉ ở đây không lâu nên chẳng cần mua xe đạp làm gì. Gặp lúc xe hư còn khổ thêm vì làm sao tìm được những chỗ sửa xe ngoài góc đường như bên Việt Nam. Ở trạm xe bus chỉ có vài người đứng chờ, miệng nhai nhóp nhép chút gì đó. Bụng Kim cũng cồn cào, cô mở cặp tìm mấy viên kẹo nhai cầm hơi. Đã một giờ trưa. Lúc xe bus chở Kim chạy ngang bãi đậu xe cô thấy giáo sư Baddley điều khiển xe lăn của mình chạy đến một chiếc xe hơi rồi loay hoay tìm cách chui vào đó. Thì ra ông tự lái xe đi dạy.
Sau buổi học đầu tiên với người thầy dễ mến dù không có khả năng tự đi trên đôi chân của mình, Kim thất vọng nhận thấy những giáo sư còn lại tuy lịch sự nhưng khá lạnh lùng và gần như vô cảm với những khó khăn của người khác. Đa phần họ đều trông rất sang trọng với những bộ complet cắt may vừa khéo. Khoa Kinh Tế, giáo sư ngoài những giờ lên lớp còn hợp tác làm tư vấn cho các công ty và tham gia nhiều dự án đầu tư với các nước giàu. Kim hay nhòm ngó sang những khoa “hiền lành” như Nông Nghiệp, Lịch Sử hay Sinh Vật để ao ước học với những vị giáo sư mộc mạc, giản dị và nhiệt tình. Fernando bảo cô đừng trông đợi sự tử tế của bất kỳ ai. Cứ cố gắng hết sức rồi thì sẽ có một “quới nhân” phù hộ. Giáo sư Baddley là một người như thế. Fernando nói ngay trong cộng đồng Châu Âu, những nước giàu cũng hay xem thường những nước kém phát triển hơn. Bồ Đào Nha là một nước tụt hậu nhiều so với Châu Âu, nên bản thân anh trước kia cũng gặp khá nhiều khó khăn. Nhưng giáo sư Baddley vẫn đối xử với Fernando một cách hoàn toàn công bằng. Ông đánh giá anh qua thái độ cần mẫn, nghiêm túc trong công việc và qua tinh thần cầu tiến của một thanh niên đến từ một đất nước còn nhiều rào cản. Khi Fernando kể lại với Kim điều này, anh hơi ngượng. Cô cười, làm bộ trêu nhưng thực lòng thấy tự hào được anh chia sẻ: “Chà! Em thấy giáo sư biết nhìn người ghê!”. Fernando hơi đỏ mặt, đôi mắt thông minh ánh những tia lém lỉnh: “Đến từ những nước nhỏ thì chỉ có một con đường là nỗ lực để đừng bị người ta xem thường!”
Nhiều đêm, khi gió không chịu ngủ cứ thang lang luồn lách vào những cành cây khẳng khiu làm chúng phải kêu lên răng rắc, Kim trằn trọc. Những người trẻ đến từ một nước nhỏ xíu gần như không tên tuổi như cô không phải chỉ muốn “đừng bị người ta xem thường” mà còn làm sao để được người ta tôn trọng. Nhưng quả thật “vươn lên” là điều ai cũng muốn nhưng không phải cứ muốn là được như câu tục ngữ tự phỉnh mình “Vouloir c’est pouvoir” (*) của dân Pháp. Học ở Oxford dù có cố gắng “lấy cần cù bù thông minh” hay “năng động - sáng tạo” kiểu gì thì so với sinh viên Anh, Mỹ hay các nước Châu Âu khác, Kim cũng chỉ là người đến từ một nước có nền giáo dục không được phát triển như ông trưởng khoa đã lo ngại. Những lúc phải nộp bài theo nhóm, bị chúng bạn tìm cách né tránh không cho cùng gia nhập, Kim vừa chán nản vừa phẫn nộ. Mấy đứa sinh viên nước ngoài - mà đa phần là dân châu Mỹ La Tinh và châu Á - đành tụ lại thành một nhóm “hợp chủng quốc”. Và với vốn kiến thức rất “ô hợp”, thường nhóm không bao giờ có được điểm cao và luôn nhận được những nhận xét rất khắc nghiệt của giáo sư. Một lần Kim ao ước: “Giá mà tụi sinh viên bản địa chịu “gánh” dùm mỗi nhóm một vài đứa nước ngoài thì điểm số mình không đến nỗi lẹt đẹt như vậy!”. Fernando đã nổi giận phản đối: “Với ý nghĩ đó, tự em đã xếp mình vào hạng làm gánh nặng cho người khác. Nếu muốn được nhìn nhận, phải có lòng tự trọng chứ!”. Lần đó cảm thấy bị “xúc phạm ghê gớm” Kim thề sẽ không bao giờ nhìn mặt Fernando nữa. Nhưng rồi cô chột dạ nhớ lại, ngày trước học Đại học ở Việt Nam, cô vẫn có thái độ xem thường những bạn từ các tỉnh xa. Cô nghĩ họ làm sao giỏi tiếng Anh bằng mình, làm sao năng động được trong điều kiện nghèo nàn sách vở, làm sao tiếp cận nổi giới doanh nghiệp vì có quen biết ai. Những người bạn đó cũng không được giới thành phố như Kim đón nhận, họ tự chơi với nhau, tự giúp nhau học rồi đi tìm việc để trang trải cho cuộc sống xa nhà. Chẳng bao giờ cô bận tâm khi nghĩ về những khó khăn của họ. Giờ đây sang Oxford, thấy khoảng cách giữa “người ta” và “mình” xa vời vợi, như thể người Sài Gòn tự nhận văn minh nhìn vào một cô nàng nào đó từ núi rừng mọi rợ bước ra đòi hội nhập.
Trong khu học xá gồm nhiều căn nhà cổ theo lối kiến trúc Victoria trên phố Woodstock, Kim ngụ trong một căn nhà có mười hai nhân khẩu. Sang Oxford cô mới kinh ngạc nhận ra những hình ảnh các ký túc xá to lớn, rộng rãi thường thấy trên phim hoàn toàn chỉ thích hợp cho những trường Đại học ở Mỹ hay các thành phố hiện đại khác ở Anh. Oxford trung thành với lối kiến trúc cổ và tự hào vì điều đó. Những dãy nhà cổ bé tí dễ thương với những căn phòng cũng nhỏ xíu nằm trên những con phố xinh đẹp như Woodstock, Walton, St John... chính là những khu học xá dành cho sinh viên. Trong căn nhà chung của Kim, ngoài cô còn có Yutaka người Nhật và Lệ Chi người Trung Quốc là sinh viên nữ đến từ châu Á. Thời gian đầu có vẻ hút nhau vì cùng màu da vàng, ba người hay ăn cơm chung trong nhà bếp dưới tầng một, nhưng vài tuần sau Lệ Chi tự động lảng tránh nhóm các cô gái châu Á để hòa mình nhanh chóng vào thế giới châu Âu.
Lệ Chi xinh xắn nhất, trẻ nhất, mới là sinh viên dự bị Đại học gọi là “A level”, nhưng cực kỳ chịu chơi. Lắm hôm khi đi xuống bếp pha trà, Kim giật mình đụng mặt cô bé từ phòng tụi Tây Ban Nha đi ra lúc đêm khuya. Kim đã thử khuyên Lệ Chi nhưng cô bé khó chịu ra mặt nên Kim quyết định “mạnh ai nấy sống”. Nghe đâu Lệ Chi là con một, cha là thương gia, mẹ trước kia là diễn viên, gia đình giàu có nhưng không hạnh phúc. Yutaka trái ngược hoàn toàn với Lệ Chi, cô trạc tuổi Kim, tính chững chạc và không nhan sắc nên sống khép kín. Yutaka học ngành khảo cổ, một ngành luôn tìm về với quá khứ nên trông cô cũng rất lạ. Bọn Tây ngại tính giữ kẽ của Yutaka nên thường cũng chỉ giao thiệp với Kim và Lệ Chi. Xem chừng họ quí Kim hơn vì cô thân thiện nhưng biết dừng đúng lúc, không quá đà và “dễ dụ” như cô bé Trung Quốc. Nhiều lúc Kim lắc đầu cười cho những ngộ nhận, trước kia cô cứ tưởng phụ nữ Nhật rất quậy còn con gái Trung Quốc đoan trang hơn.
Sang đến cuối tháng mười, Kim vui mừng đón một đồng hương mới từ Việt Nam sang, chị là giáo viên một trường Đại học, sang tu nghiệp theo chương trình hợp tác với khoa Hàng Hải, sẽ chỉ ở Oxford bốn tháng. Mấy ngày đầu Thúy Hà phải nhờ Kim dẫn đi giới thiệu trường
và giúp làm một số giấy tờ. Kim ngỡ ngàng nhận ra Thúy Hà hoàn toàn không hợp với mình. Chị nói tiếng Anh chưa rành nhưng hay ra vẻ ta đây, thích lên giọng đàn chị dù chỉ hơn Kim một tuổi. Kim thường nhìn cái cách “dốt mà làm như hay chữ” của Thúy Hà mà ngẫm đến lời giáo sư trưởng khoa: “Ở những trường Đại học danh tiếng, đôi khi người ta cũng buộc phải cấp bằng cho những nhân vật đặc biệt vì lý do ngoại giao hay chính trị”.
Chán thực lực của Thúy Hà đã đành, Kim còn bất mãn với tính nết của cô bạn đồng hương. Có tí nhan sắc và dù đã có chồng với một con trai hai tuổi, Thúy Hà vẫn lúng liếng đưa tình với tất thảy bọn con trai ở đây, dù da đen hay da trắng, miễn vạm vỡ và đẹp trai là được. Cái vẻ lẳng lơ lộ liễu như Thị Mầu của Thúy Hà làm Kim xấu hổ khi có ai đó hỏi “Bạn và Thúy Hà cùng là người Việt Nam hả?”.
Kim thất vọng nghĩ mình tìm không ra một người bạn tâm giao ở đây, trong lớp bị lạc lõng đã đành, về khu học xá cũng chỉ là những mối quan hệ xã giao. Có thể bọn Tây không lạnh lùng, thậm chí còn sẵn sàng giúp đỡ, nhưng bản thân họ cũng luôn bận rộn, mà Kim thì thấy thật tự ti. Vài anh chàng người Anh đẹp trai như hoàng tử William, chắc xuất thân từ gia đình quyền thế, đôi khi làm Kim rụng tim nhưng cô biết họ không dành cho mình. Cũng có chàng xấu trai và mặt đầy tàn nhang, nhiều lúc Kim muốn kết thân nhưng họ lại có vẻ mặc cảm. Những anh chàng nước ngoài khác đến từ khắp nơi trên thế giới, đủ mọi màu da, sang hèn các loại, đẹp trai cỡ Brad Pitt không thiếu mà ngáo ộp như một chàng Ivan nông dân cũng rất nhiều. Ai cũng “thủ”, tự tôn, tự ti rộn cả lên. Rốt cuộc, Kim kết luận: “Đừng mơ mộng gì nữa!”
Từ ngày bị Fernando nói thẳng đến mức tự ái không thèm nhìn mặt anh, Kim tìm ra nguồn khác để trút những than thở của mình. Cô hay viết email về kể khổ và nhận được những lời động viên của bạn bè bên nhà. Tuy nhiên họ thường làm cô khó chịu. Có người vô tư hô khẩu hiệu: “Người Việt Nam mình ở đâu cũng giỏi!”. Người thì tin tưởng cô tuyệt đối: “Kim phải đứng nhất lớp đó nhé!”. Kẻ khác thuộc hạng “ếch ngồi đáy giếng”, chúc cô một câu xanh lè: “Học giỏi cho tụi Tây lé mắt luôn!”. Kim bực mình nghĩ lỗi này do các phương tiện truyền thông chỉ đua nhau ca ngợi những gương mặt Việt Nam thành công ở nước ngoài, rồi báo chí hè nhau hoan hô các học sinh - sinh viên đoạt giải thưởng và các huy chương quốc tế. Nhưng những trường hợp đặc biệt này chiếm bao nhiêu phần trăm? Còn bao nhiêu du học sinh học hành lẹt đẹt, ngoại ngữ lõm bõm, cày ngày cày đêm cũng chỉ mong vượt qua được ngưỡng không bị điểm liệt sao họ không đưa tin? Rồi chịu khó lên mạng Internet mà xem, ở khắp nơi trên thế giới còn bao nhiêu sinh viên Việt Nam bế tắc đến nỗi phải vào bệnh viện tâm thần hay thương tâm nhất là tự hủy mình, sao báo chí không lên tiếng? Kim căm ghét cái thói sĩ diện và hay ca ngợi của dân mình. Hay là càng tự ti nên mới càng tự tôn, dạng như Thúy Hà, giáo viên Đại học đó?


Kẻ gây thù chuốc oán

Nắng vàng trong vắt nhẹ nhàng đậu trên vai Kim. Một ngày thật hiếm hoi thấy bầu trời trong xanh hơn. Kim rảo bước vào trường qua cánh cổng gỗ xưa cũ và uy quyền. Cô có hẹn đến văn phòng của giáo sư Baddley. Giáo sư đón cô bằng nụ cười thân thiện nhưng Kim vẫn thấy hết sức hồi hộp.
Giáo sư hỏi:
- Bài tiểu luận này em có nghĩ rằng đã làm hết sức mình chưa?
- Dạ... dạ... - Kim cố nén trả lời thật nhỏ nhẹ - Dạ rồi!
- Em lấy thông tin từ đâu? - Giáo sư hiền lành nhìn Kim đang mướt mồ hôi, cười khích lệ nhắc - Hít sâu, thở đều!
- Từ Internet, từ các sách em đã ghi vào tiểu luận mục “Tham khảo”, và từ...
- Từ đâu?
- Từ... Fernando Carvalho, trợ lý của thầy - Kim lúng túng thú nhận, cô chợt nhớ mình chưa trả tài liệu cho anh từ dạo không nhìn mặt nhau đến nay - Có vấn đề gì không ạ? Thông tin đó Fernando có được từ kỳ thực tập tại công ty Euroexport cách nay ba năm.
- Không sao. Tôi chỉ muốn biết em có năng động trong việc tìm dữ liệu không. Nhân tiện - Giáo sư Baddley cười ngụ ý - Fernando thường xuyên giúp em chứ? Không phải chỉ có môn của tôi mà những môn khác nữa chứ?
Kim đỏ mặt, cô không biết nói sao. Cuối cùng cô thú nhận hai đứa có một vài tranh luận trong phương pháp học nên tạm đang trong thời gian suy nghĩ xem ai đúng. Baddley gật gù nhận xét:
- Fernando là một thanh niên “được” lắm đó. Anh ta cũng có vài điểm giống em, cùng là người nước ngoài, cùng hiếu học, cùng rất tử tế.
Kim chờ giáo sư khen thêm nhưng đột nhiên ông quay lại đề tài chính. Ông nhận xét bài tiểu luận của Kim thiếu nhiều chi tiết quan trọng, cách viết khó hiểu, trình bày chưa chuyên nghiệp. “Cách trình bày cũng quan trọng không kém phần nội dung - Giáo sư chân thành khuyên - Em nên nhờ Fernando chỉ cách cho. Sau này làm luận văn tốt nghiệp người ta còn đòi hỏi cao hơn!”. Kim gục gặc đầu ra vẻ đồng ý. Giáo sư khuyên thêm Kim khi cô khoác áo đứng dậy: “Em cũng nên nhanh chóng tìm đề tài làm luận văn đi. Nếu muốn tốt nghiệp chỉ trong một năm em phải làm việc cật lực hơn và phải có phương pháp”. Kim lại gật đầu lia lịa như một con rối nhưng cô không dám hỏi “Ai sẽ chỉ cho em những phương pháp học tập và nghiên cứu có hiệu quả đó? Em đến từ Việt Nam mà!”. Giáo sư đã lăn xe tiễn Kim ra cửa, cô lấy hết can đảm ngoái đầu lại:
- Giáo sư! Em...
Ngay khi Kim còn đang ấp úng và đứng dùng dằng chân trong chân ngoài ngay cửa phòng giáo sư Baddley, Fernando xuất hiện. Anh làm ra vẻ không nhìn thấy Kim nên cô cũng lúng túng cố phớt tỉnh. Cuối cùng giáo sư phải lên tiếng “Hai người không quen nhau sao?” rồi nhìn Fernando và Kim đang gườm gườm chào nhau lí nhí. Người đàn ông có nụ cười hiền như bụt lắc đầu ngao ngán: “Những người trẻ...”. Kim ngơ ngác nhìn ông rồi quay đầu hấp tấp bỏ đi. Sao giáo sư lại nói một câu không ăn nhập gì hết.
Tối đó Fernando đột ngột ghé vào khu học xá của Kim khi cô đang đầu bù tóc rối vừa chiên khoai tây vừa chấm mút với cá hộp trong căn bếp tập thể sặc mùi dầu mỡ. Sốt cà đỏ lem luốc còn đọng lại trên mép cô làm anh bật cười rút khăn tay lau cho cô một cách chăm chú. Bọn bạn cùng ngồi ăn trong bếp chứng kiến cảnh này nhìn nhau ngỡ ngàng: “Cô nàng Việt Nam tưởng hiền lành này có bạn trai mà hồi nào đến giờ giấu kín!”. Kim quê nhất là ánh mắt thoạt ngạc nhiên rồi nhanh chóng giễu cợt “Vậy mà cũng bày đặt làm như chính chuyên lắm!” của Thúy Hà và Lệ Chi. Kim kinh ngạc đến nỗi đờ người ra không phản ứng bất cứ hành động nào. Thậm chí khi Fernando cầm tay lôi cô lên phòng, Kim cũng lê gót theo anh như kẻ mộng du. Anh nhìn ngó săm soi khắp căn phòng dù bé tí nhưng không ngăn nắp rồi lục tung sách vở giấy tờ bề bộn trên bàn cô một cách bất lịch sự.
- Góc học tập của em là thế này đó hả? Không thể nào ngờ một cô gái trẻ trung như thế này mà có thể ở được trong một căn phòng kinh khủng như thế ấy. Chả trách học nhiều mà vẫn không hiệu quả! - Fernando gắt, giọng bất bình mà Kim vẫn chưa kịp tỉnh cơn mê, cô ấp úng chẳng nói được câu gì - Đã không có phương pháp mà còn tự ái cao không chịu nghe lời người đi trước! Có một người đầy kinh nghiệm ở đây mà không biết tận dụng! Sĩ diện hão! Nhảm nhí!
- Hả? - Kim bắt đầu ý thức được chuyện gì đang xẩy ra - Ai khiến anh vào phòng tôi mạt sát chứ? Tôi không cần anh!
Fernando đay lại:
- Không cần? Vậy ai than thở với giáo sư mình đến từ Việt Nam, mình không được ai bày cho phương pháp làm việc có hiệu quả, mình bị cô lập, mình bị khó khăn?
- Tôi không nói, không hề nói! - Kim phản ứng yếu ớt
- Phải, em không nói - Ánh mắt nghiêm khắc của Fernando ánh lên - Nhưng thái độ tự ti, cách phản ứng tiêu cực, ánh mắt van nài của em đã làm giáo sư nhận ra ngay điều đó!
- Thì sao? Thì sao? - Kim nổi điên thật sự - Ảnh hưởng gì đến anh?
Fernando bị Kim lấn đến chân giường một cách ráo riết đến mức anh phải té lăn ra. Cú ngã làm chiếc giường sắt va vào vách tường thạch cao nghe đánh “rầm”, lại thêm đôi chân mang giày của Fernando vung lên đập vào “rầm, rầm” liên tiếp. Phòng bên bọn sinh viên ré lên cười: “Chúa ơi! Chúng nó “yêu” nhau bạo liệt quá!”. Kim còn nghe rõ ràng cái giọng cao vút điêu ngoa của Thúy Hà nói bằng tiếng Việt: “Thế mới biết ai cũng như nhau hết!”. Giờ Kim mới nhận ra tình huống kỳ cục này, cô lúng túng chẳng biết xử sự làm sao. Vậy mà đôi mắt sắc sảo của Fernando vẫn không tha nhìn vào cô chòng chọc. Cuối cùng, dĩ nhiên, Kim khóc. Cô không hiểu vì sao ở Việt Nam cô vốn không phải là loại hay “mít ướt” nhưng sang đây lại dễ cho người ta thấy mình yếu đuối đến như vậy. Càng khóc Kim càng nấc to. Càng nấc to Fernando càng cười lớn.
- Anh là đồ độc... độc... độc... ác... ác... ác - Kim cố gắng lắm cũng không thể không cà lăm.
- Độc ác! Độc ác! - Fernando mỉm cười lặp lại.
- Tôi căm... căm... thù... thù anh!
- Căm thù! Căm thù! - Fernando nhại, giọng giễu cợt
- Tôi... tôi...
Kim thật sự hết biết mình phải nói gì, cô chợt nhận ra nãy giờ Fernando vẫn nằm trên giường cô, nằm một cách thoải mái không thèm cởi giày, tay chống ngay thái dương, chân bắt chéo nhịp nhịp. Còn Kim, cô đang ngồi bẹp dưới đất khóc lóc. Thật chẳng ra thể thống gì! Cuối cùng Kim cũng phải biết đứng lên và xử sự cho đúng với vai trò chủ nhà của mình. Cô lấy hết sức dõng dạc hô:
- Mời anh đi khỏi phòng tôi!
- Dĩ nhiên! - Fernando tỉnh rụi trước sự “vùng lên” của Kim - Tôi không có ý định ngủ lại trong căn phòng bề bộn sách vở và khá là bẩn thỉu này!
- Tôi... tôi...
- Căm thù! Căm thù! - Fernando nhắc, mặt đểu hết chỗ nói.
- Tôi... tôi... muốn giết anh - Kim hụt hơi.
- Giết đi! - Fernando thách, giọng giễu cợt - Ăn toàn khoai tây chiên với sốt cà chua thì lấy đâu ra sức? Học còn không đủ sức nữa là giết người! Nè, cho đấm vô người tôi nè! Đấm đi!
Kim nhìn thân thể cường tráng, cao ráo của Fernando, biết mình có đấm anh cũng như lấy trứng chọi đá. Nhưng lòng tự trọng không cho phép cô bỏ qua lời “thách đấu” này, Kim lấy hết sức bình sinh thụi một phát vô bụng Fernando và bị dội ngược lại ngay tức khắc. Fernando nhìn Kim ngã chúi ra sau, cười khinh khỉnh: “Có đau tay lắm không?”. Đến nước này Kim chỉ còn biết dậm chân khóc váng lên như một đứa trẻ bị đẩy vào chân tường. Fernando thôi không “độc ác” nữa, đôi tay rắn chắc ôm lấy vai cô vỗ về: “Thôi được rồi! Được rồi! Bình tĩnh! Rồi tôi sẽ chỉ em cách trả thù và cả cách làm sao giết được tôi nữa”.
Phòng bên bọn sinh viên đang áp chặt tai vào vách tường mỏng dính hồi hộp. Cuối cùng, bọn chúng chán nản kháo nhau “Thôi, hết phim rồi!” và tục lục ôm sách vở tản đi. Dĩ nhiên là bọn chúng lầm. Tất cả chỉ mới bắt đầu.
Từ đó mỗi sáng trời hãy còn tối đen, dù gió rét, dù mưa rơi Kim đều bị Fernando gọi điện dựng đầu dậy. Khi cô rửa mặt đánh răng xong, vừa ngáp vừa cột dây giày thì Fernando cũng vừa đến. Anh “kè” Kim chạy vòng vòng tập thể dục quanh khu học xá. Cô vừa thở hồng hộc, vừa mếu máo, vừa khóc thút thít, và vừa nguyền rủa kẻ thù đang “nâng cao đùi” chạy canh chừng đàng sau. Bắt một cô gái ẻo lả, ngại vận động như Kim phải có tinh thần thể thao thật khó vô cùng. Thế là Fernando chỉ còn cách “áp giải” kiểu này mới vời được cô nàng ra khỏi giường lúc đang ngủ ngon nhất.
Trời tờ mờ sáng, khi mấy bà già trùm đầu kín mít dắt chó đi dạo thì Fernando cũng vừa kịp cho phép Kim tự do. Anh mồ hôi ướt đẫm leo lên xe hơi chạy lên trường Đại học. Trước khi cho xe lăn bánh Fernando còn kịp dặn: “Nhớ ăn sáng cho đàng hoàng rồi lên thư viện học! Đừng ngồi trong phòng, dễ bị “hấp lực” của chiếc giường lôi kéo”. Kim gục gặc đầu “Biết rồi! Biết rồi!”, cô đưa tay vẫy, chờ chiếc xe khuất sau cua quẹo chỗ cây phong trụi lá đầu đường rồi co giò nhảy vào phòng tắm. Nước lạnh làm cô tỉnh rụi, thấy tội nghiệp “người dưng” khi không phải cực khổ vì mình. Giờ này chắc Fernando cũng đang tắm ở trường rồi vội vã thay đồ tươm tất chuẩn bị làm việc. Tám giờ rồi, chắc anh chẳng kịp ăn sáng, hình như hôm nay anh phải làm trợ giảng cho giáo sư Baddley đến tận giữa trưa.
Cuối tuần, Fernando lại bất ngờ xuất hiện lúc Kim đang áo xống xộc xệch, tóc tai rũ rượi nằm sấp trên giường xem mấy cuốn catalogue thời trang Lệ Chi cho mượn. Fernando không mặc complet, thắt cravate và khoác manteau trịnh trọng như những ngày đi làm trong tuần. Anh trẻ trung hơn với bộ đồ jean và cái áo thun trắng khỏe mạnh bên trong.
- Trời ơi! - Fernando nhìn mấy cô người mẫu đẹp rụng rời chép miệng - Còn lâu em mới có được vóc dáng “chết người” này. Thay vì lo ăn uống tẩm bổ em lại nằm bẹp xem người ta xinh đẹp hơn mình. Không thấy tức sao?
- Mắc chứng gì anh dám mạt sát nhan sắc của tôi? - Kim vừa tức giận vừa bối rối nhìn lại vẻ luộm thuộm của mình sau những phút bị “hớp hồn” trước vẻ bề ngoài của Fernando - Cuối tuần sao anh không ở nhà nghỉ ngơi đi? Cho tôi hít thở bầu không khí tự do một chút, vác mặt đến đây làm gì?
Fernando khiêu khích:
- Em làm như tôi khoái bám theo một người không-có-khả-năng-thu-hút-đàn-ông như em lắm. Em không thấy tụi sinh viên nữ bám theo tôi sao? Em đâu tới lượt!
- Anh... - Kim tức nghẹn họng - Anh có biết tôi là một người nhạy cảm lắm không? Anh dám xúc phạm tôi vậy đó hả? Anh coi chừng tôi đó! Tôi... tôi có một tâm hồn nghệ sĩ...
Fernando nhìn Kim đang đau khổ và tức giận, mắt cô long lên sòng sọc nhìn quả đáng ngại. Anh cố cười lớn nhưng đã thấy mình không nên chọc giận con gái ở cái khoản này. Fernando đành ra vẻ giảng hòa, anh lấy cây lược chỗ bồn rửa mặt ra đưa cho Kim:
- Em là nghệ sĩ hả? Vậy có gì đâu mà tôi phải “coi chừng”. Tưởng em hù “tôi là võ sĩ” thì mới sợ chứ! Giỡn chút làm gì em nổi điên dữ vậy? Thôi chải đầu đi rồi tôi “hộ tống” em đi siêu thị.
- Tại sao? - Kim ngơ ngác.
- Cơ thể con người như một cái máy vô cùng phức tạp. Em không thể làm việc tốt nếu không nạp đủ nhiên liệu. Em đã bắt đầu tập thể dục, như vậy là rất tốt. Nhưng em còn phải ăn nữa cơ thể mới khỏe ra - Fernando cười, nháy mắt - và đẹp ra nữa!
- Nhưng tại sao tôi phải đi siêu thị với anh? - Kim thắc mắc.
Fernando nhìn thùng mì gói và mấy loại đồ hộp của Kim trên kệ, lắc đầu:
- Vì em không biết cách đi chợ, không biết cách ăn uống cho đúng cách… Em muốn chết hay sao mà ăn toàn mấy cái thứ này?
Ở siêu thị, Fernando dẫn Kim đến từng gian hàng, chỉ cô cách chọn từng loại thực phẩm sao cho thật tươi mà giá không quá mắc. Anh chất đầy một xe nào trứng, sữa, thịt bò, cá, rau củ, mì ống, nui, trái cây... rồi đẩy ra quầy thu ngân. Kim xót ruột rút thẻ tín dụng và gần ngất xỉu khi thấy hóa đơn chạy ra. Fernando làm lơ vẻ mặt ngơ ngẩn vì tiếc tiền của Kim. Anh lo chất thức ăn vào xe rồi chở Kim về khu học xá. Lúc hai người khệ nệ bê hàng hóa lên phòng, tụi sinh viên nhìn chằm chặp rồi mỉm cười đầy ngụ ý. Kim cố phớt tỉnh nhưng không hiểu sao lúc nào Fernando xuất hiện cũng có mặt Thúy Hà, chị ta lầm bầm một mình bằng tiếng Việt đủ lớn cho Kim nghe: “Chàng nuôi nàng kỹ quá!”. Kim vừa ngượng vừa quạu liếc xéo Fernando vì đâu phải anh trả tiền.
- Trong một tuần em phải tiêu thụ hết tất cả những thứ này! - Fernando nghiêm túc căn dặn - Hãy uống sữa, ăn trứng và trái cây mỗi ngày. Nếu hôm nào không khỏe lắm thì ăn cá chứ đừng ăn thịt bò, khó tiêu. Phải uống cho đủ nước! Ăn uống phải đúng giờ, cấm không được bỏ bữa. Tuần sau tôi đến kiểm tra mà thấy còn dư đồ ăn thì đừng có trách!
- Tôi không quen uống sữa, cũng không thích thịt bò - Kim bực quá cãi lại - Tôi thèm cơm Việt Nam mà anh bắt tôi ăn nui và mì ống thì sao tôi nuốt vô? Nếu bắt anh phải ăn... nước mắm mỗi ngày anh chịu nổi không?
Fernando do dự vài giây rồi phán:
- Tôi không cần biết, dù thích hay không em vẫn phải ăn. Nếu thèm cơm Việt Nam thì mỗi tuần cho em ăn một ngày. Còn lại phải ăn mì ống và nui. Những thực phẩm này làm bằng lúa mạch, bổ hơn gạo. Sữa uống chưa quen thì uống ít, từ từ tăng lên.
- Tại sao chuyện ăn uống của tôi cũng bị anh kiểm soát chứ? - Kim nổi xung - Ăn theo kiểu Tây đắt gấp nhiều lần ăn theo kiểu Việt, mà còn không hạp khẩu vị nữa!
- Nếu muốn ăn cơm Việt Nam thì đừng qua đây học - Fernando ngang tàng - Ở Việt Nam thời tiết có khắc nghiệt như bên đây không? Cường độ làm việc có cao như bên đây không? Em nhìn lại mình đi, ốm nhom ốm nhách, xanh lè xanh lét. Còn dân bên đây thì sao? Cao ráo, khỏe mạnh, hồng hào. Tất cả là nhờ cái gì? Em đừng có tiếc tiền cho chuyện ăn uống, đâu phải tiền em kiếm ra, mỗi tháng tổ chức cấp học bổng rót tiền cho em đầy đủ mà. Tại sao sống ở Anh mà cứ nhân lên tiền Việt làm gì cho xót ruột? Nếu em hà tiện, tôi sẽ méc họ để họ khỏi phải hốt xác em sau mùa đông này.
Kim ngao ngán trước anh chàng độc đoán:
- Có cần phải trù ẻo tôi ác miệng đến vậy không? Tôi ghét anh kinh khủng!
- Thì cứ ghét đi! - Fernando bật cười - Thậm chí em còn muốn giết tôi nữa mà! Muốn làm được điều này em phải ăn chứ!
Tuần đầu tiên Kim tiêu thụ không hết đồ ăn, Fernando đến kiểm tra rồi nhìn cô bằng cặp mắt vừa lạnh lùng vừa phẫn nộ:
- Em có thấy ngày trời càng lạnh hơn không? Chỉ mới mùa thu thôi đó mà đã mặc cả chục lớp áo rồi! - Fernando đột ngột xấn đến lật áo Kim ra đếm làm cô không kịp phản ứng - Có muốn sống sót qua mùa đông sắp đến không?
Kim run lập cập trước vẻ nghiêm khắc của Fernando nên lí nhí ngụy biện: “Bao tử tôi nhỏ quá!”. Fernando lắc đầu: “Tôi chỉ mua đồ ăn cho một người như em cần phải ăn, tôi còn ăn nhiều hơn em gấp chục lần! Chỉ có cố ăn mà làm không được thì đòi học hành gì cho nổi. Lúc nào nhìn em cũng lờ đờ, xanh lét, run rẩy. Coi có ra người ngợm gì không? Sao mấy cô nàng đẹp đẹp đó, cũng người châu Á mà đâu có thê thảm như em dữ vậy!”.
Không muốn bị Fernando la lối, xỉ vả, đem nhan sắc cô ra đay nghiến hoài, tuần sau Kim phải nhờ tụi sinh viên ở chung nhà ăn dùm dù tiếc đứt ruột. Mãi đến tuần thứ ba Kim mới ăn được hết số thức ăn theo chỉ tiêu Fernando đề ra. Cô cảm thấy không đến nổi khó ăn theo khẩu phần Châu Âu rồi nhận ra mình không còn bị chóng mặt và xây xẩm mặt mày nữa. Cô nghĩ quả Fernando luôn có lý, tiếc là anh không biết nói dịu dàng.
Fernando luôn có những nguyên tắc của mình mà Kim luôn than trời “Thật là khắc kỷ!”. Nhưng anh đã thành công trong việc tạo cho cô thói quen tập thể dục mỗi sáng và ăn uống đầy đủ chất. Vì thế những nguyên tắc khác trong học tập thể nào Kim cũng phải theo.
- Tôi chỉ em cách lên lịch học thế này: phân bổ ra giờ đọc lý thuyết và tìm tư liệu, còn đây là khoản thời gian em làm bài tập. Sao, có ý kiến gì không?
- Không! - Kim gục gặc - Anh nói gì mà không đúng?
Fernando nén cười:
- Tôi đâu có độc tài dữ vậy! Em chẳng biết tí gì về phương pháp làm việc. Biết quản lý tốt thời gian là em có thể thành công được năm mươi phần trăm rồi!
Fernando tiếp tục chỉ đến cách sử dụng phần mềm vi tính mà Kim tưởng mình đã giỏi hóa ra còn chưa biết gì: Power Point để thuyết trình sao cho thật sinh động, Winword để trình bày các tiểu luận sao cho thật chuyên nghiệp, cách dùng những công thức tài chính trong Excel sao cho tiết kiệm được thời gian mà tiện lợi, cách đọc sách sao cho hiệu quả, cách lên mạng Internet tìm thông tin nhanh chóng, cách nhớ công thức bằng cách ghi lên các mảnh giấy nhỏ dán khắp phòng... Mỗi khi bày cho Kim một phương pháp nào, Fernando chỉ nói qua một lần. Cô phải ghi chép lại để tự mình ứng dụng. Anh dứt khoát không nhắc lại lần thứ hai. Hôm nào lỡ quên, tốt nhất Kim nên đi lang thang khắp khu học xá hỏi ai đó, chớ dại hỏi lại Fernando sẽ bị anh đập bàn quát: “Đã biết trí nhớ không tốt thì phải ghi lại chứ! Tôi ở không đi theo nhắc tò tò cho em hoài sao!”. Kim thấy thật nhức óc. Nhiều lúc Fernando chép miệng than “Bên đây tụi con nít cấp một đã được dạy cách học hiệu quả, còn em lên đến Cao học mới bắt đầu làm quen!”. Kim tự ái kinh khủng nhưng may anh cũng biết an ủi: “Nhờ tiếng Anh của em rất tốt, nếu không còn chết nữa!”. Những lúc phải “ngậm bồ hòn làm ngọt” cho Fernando “lên lớp”, cô thầm tiếc giá anh là một người thầy của mình từ hồi còn ở Việt Nam, hẳn cô không đến nổi “lù khù” đến vậy.
Hầu như ngày nào Fernando đi làm về cũng phải ghé qua khu học xá “phụ đạo” cho Kim. Lúc thì anh kiểm tra bài tập, lúc dạy cô thêm một phương pháp mới để xử lý thông tin. Có hôm đến tối mịt, hơn mười giờ Fernando mới có thể ra về. Nhiều lúc Kim muốn trêu “Anh dặn tôi ăn uống đúng giờ mà sao bản thân anh giờ này còn chưa ăn tối?” nhưng rồi không muốn “chọc vào ổ kiến lửa” nên nhịn cười nhìn Fernando khàn giọng dạy dỗ mình mà bao tử hẳn đang kêu réo nên lắm lúc phải xin xỏ “Em có thể cho tôi một ly sữa không?”. Những lúc như thế Kim thấy thật mềm lòng, cô đưa ly sữa được rót gần tràn và hào phóng cho anh thêm vài loại trái cây. Kim muốn nói một câu gì đó pha trò cho không khí vui vẻ một chút nhưng Fernando lúc nào cũng nghiêm và sẵn sàng nổi quạu. Có lẽ vì anh đang mệt mỏi quá.
Mỗi lần Fernando xách cặp từ phòng Kim ra về với cái dáng vẻ bơ phờ, Thúy Hà lại cười cợt nói với cô “Em hành anh ta xanh lè cả ra! Lúc vào đi đứng đàng hoàng, trở ra sao toàn phải đi hàng hai!”. Thoạt đầu Kim hay buồn nôn với cái giọng đĩ thõa của một người đang làm giáo viên, về sau cô tự an ủi nhờ Thúy Hà nói tiếng Anh tệ quá nên bọn Tây không biết chị ta ăn nói kinh khủng đến mức nào. Kim vẫn thường bực tức Fernando cứ bắt cô phải đóng cửa phòng để yên tĩnh tuyệt đối lúc anh đang cùng cô làm việc. Anh rất ghét cái cảnh chốc chốc bọn sinh viên lại gõ cửa lúc mượn cây thước, khi rủ đi chơi, hoặc nhiều khi chỉ giả bộ hỏi xin cái khăn giấy để tò mò nhìn vào phòng. Fernando làm hẳn một cái bảng đánh vi tính “Xin đừng làm phiền, tôi đang làm việc!” treo ngay cửa phòng Kim từ lúc anh bước vào. Chưa hết, Fernando cực đoan đến mức ra lệnh với Kim: “Chỉ khi nào em nghe chuông báo cháy mới được mở cửa ra, còn bất cứ tiếng động nào em cũng phải mặc kệ! Chính tôi cũng tắt điện thoại di động khi đang dạy em đây!”. Cái mặt hình sự của anh không những đe được Kim mà cũng dọa được tụi sinh viên chung tầng lầu. Dần bọn chúng cũng thôi không nhiều chuyện nữa.
Biết rằng Fernando luôn vì mình, thế mà khá nhiều lần Kim không cưỡng lại được sự lười biếng cố hữu. Do tối thường trằn trọc nhớ nhà và lo lắng chuyện học, cô không ngủ thẳng giấc, sáng lại phải thức sớm tập thể dục nên thường ăn sáng xong thì mắt đã nhíp lại. Không cách chi chống cự nổi, thế là đành chắc lưỡi “Ngủ vài phút!”. Leo lên giường, trùm chăn kín, ấm áp thế này, được ngủ là một hạnh phúc vô biên. Và rồi dù lương tâm vừa cắn vừa rứt trong suốt giấc ngủ đến mức mộng mị thấy Fernando phùng mang trợn má la hét ỏm tỏi “Lên thư viện học, đừng có ngồi trong phòng dễ bị cái giường quyến rũ!”, Kim vẫn không sao tỉnh được dù chuông đồng hồ đổ liên hồi. Đưa tay tắt chuông, Kim còn kịp nêu cái cớ “Ai biểu mình không biết uống cà phê... Ngủ thêm một tí... Ra sao thì ra...”.
Và cái sự ra sao thì ra đó là đến tận mười một giờ Kim mới lồm cồm bò dậy, vừa xỉ vả mình vừa vội vã khoác áo chạy ra bến xe bus để vào thư viện. Thế mà đểu, cô còn dám mon men đến phòng học có Fernando đang cho sinh viên làm bài tập. Đứng bên ngoài cửa sổ nhìn vào, Kim nháy mắt ra hiệu, thấy anh nhìn ra, cô giả bộ vươn vai, làm ra vẻ từ sáng sớm đến giờ phải ngồi trong thư viện học tập miệt mài lắm.
Sự giả dối này của Kim thật non tay so với một người sắc sảo như Fernando. Anh không thèm theo dõi cô làm gì cũng biết cô có học hành đàng hoàng trong thư viện hay nằm nhà đánh một giấc đến trưa. Cuối tuần Fernando đến, chỉ cần anh kiểm tra tiến độ bài tập, hỏi vài câu trong giáo trình là phát hiện dễ dàng Kim có “vấn đề”.
- Sao? Công chúa lười biếng? Cô đã làm gì suốt cả tuần nay mà bài tập tôi giao chưa xong, sách cũng chưa đọc, số liệu chưa tìm?
Ánh mắt Fernando nghiêm khắc đến mức Kim run bần bật và mồ hôi vã ra. Cô lí nhí:
- Em... em... em bệnh!
- Bệnh gì? - Fernando lạnh băng.
Kim cố thuyết phục:
- Em bị cảm cúm. Ngày nào em cũng bị rã rời, cơ thể em đau nhức, mắt em mở không lên, em ăn không được...
- Em chỉ có ngủ thôi! - Fernando thêm vào - Tại sao run dữ vậy? Mà mồ hôi nhỏ ròng ròng trên trán nữa kìa! Chắc bệnh thật rồi!
- Dạ, em bệnh - Kim gật đầu xác nhận
Kim chưa kịp vui mừng vì đã thuyết phục được Fernando anh đã đập bàn đánh “rầm” đầy giận dữ: “Lười biếng thì có thể tha chứ dối trá thì không chấp nhận được!”. Tiếng đập bàn cộng thêm tiếng thét bất mãn của Fernando rồi tiếng khóc rống não nùng của Kim làm thành một “tạp âm” đầy kịch tính, thu hút gần như toàn bộ sinh viên ở tầng lầu. Bọn chúng tranh nhau áp tai vào cửa và hai vách của hai phòng kế bên như những con ruồi bẹp dí bên hủ mật.
Giọng Fernando cao vút:
- Còn gì để nói nữa không? - Hu... hu... hu... - Chỉ nghe Kim khóc già.
- Em nghĩ tôi là ai? - Fernando đanh giọng - Tại sao mỗi sáng tôi phải đến đây tập thể dục với em? Tại sao cuối tuần tôi phải đi siêu thị với em? Tại sao tôi phải mất thời giờ và công sức để quan tâm đến cái sự học của em? Tại sao tôi muốn em làm việc có phương pháp? Tại sao tôi muốn em có sức khỏe tốt? Tại sao? Tại sao?






Mùa đông cô đơn Sau sự kiện “đau lòng” đó, Kim luôn tự hỏi “Tại sao và tại sao?”. Vì cớ gì Fernando lại hết lòng vì cô đến thế? Chẳng phải anh yêu đương hay muốn tán tỉnh gì. Kim cũng từng được nhiều đối tượng đeo đuổi nhưng chưa có nhân vật nào quái chiêu như vậy. Ở Việt Nam, người ta ca ngợi, khen tặng, ngưỡng mộ Kim bao nhiêu, ở đây Fernando không tiếc lời la lối, xỉ vả, mạt sát, lăng nhục cô bấy nhiêu. Chẳng bao giờ Kim thấy Fernando nhìn mình dịu dàng, lúc nào anh cũng chằm chặp chiếu tướng cô bằng “cặp mắt mang hình viên đạn”. Trong đời chưa bao giờ Kim sợ ai đến như vậy dù gia đình cô cũng rất nghiêm khắc. Đau nhất là có hôm Fernando còn đem cả dân tộc Kim ra trêu cợt: “À thì ra, sinh viên Việt Nam là vậy đó! Học thì tệ, ngủ thì nhiều mà lúc nào cũng xin được học bổng của chính phủ nước giàu!”. Kim giận run, nín khóc: “Anh không được phép nói động đến người Việt Nam!”. Fernando nhún vai khinh bạc: “Ai cấm được tôi, tôi thấy sao thì nói vậy. Mà em có cấm tôi thì cũng còn những sinh viên khác trong lớp nhận thấy điều này, rồi các giáo sư nữa. Vậy mà thầy Baddley nói “Cô Kim đó đến từ một nước anh hùng, dân tộc đó tuy nhỏ nhưng chiến thắng được bao nhiêu là kẻ thù xâm lược”. Vậy mà... - Fernando lắc đầu ngao ngán - có mỗi “giặc buồn ngủ” thôi mà cũng chịu thua!”. Hận người, giận mình, Kim mất hết lý trí cầm dao trên bàn học lăm lăm chĩa về phía Fernando: “Anh có nghĩ tôi dám giết anh không?”. Fernando mặt lạnh như tiền vừa mở cửa phòng bỏ đi vừa nói: “Ruồi còn không đủ sức đập nữa là giết người!”. Bọn sinh viên đứng đầy ngoài hành lang há hốc miệng thấy Fernando khinh khỉnh bước ra, theo sau là Kim mắt mũi tèm lem, lăm lăm cây dao nhựa rọc giấy. Anh chàng Mauricio người Chilê ở phòng đối diện chép miệng: “Trời! Hai người này sao cho xem tấu hài hoài vậy không biết!”. Thúy Hà cười lớn nhất: “Yêu nhau lắm giết nhau thôi!”. Tưởng rằng đến nước này thì chẳng mặt mũi nào nhìn nhau, vậy mà sáng sớm hôm đó, khi Kim mặt bừng bừng vừa chạy vừa thở phì phò quanh khu học xá, cô chợt nghe tiếng “nâng cao đùi” quen thuộc sau lưng. Xong phần tập thể dục, Fernando còn đòi hộ tống Kim trực tiếp đến thư viện thay vì để cô tự đi như thường lệ. Kim không thèm đáp. Cô bỏ vào nhà tắm, đứng dưới vòi sen suy nghĩ không biết anh muốn gì. Chẳng dám nhìn cái giường, Kim đeo túi, xách dù, chạy ra bến xe bus. Fernando vẫn đứng chờ trước khu học xá, anh đưa tay chặn Kim lại, mời lên chiếc xe hơi đang mở rộng cửa. Không thèm nhìn Fernando, Kim hung hăng gạt tay anh ra, dợm bước về phía trước. Fernando kêu lên: - Sao? Có cần thiết phải cực đoan một cách xuẩn ngốc như vậy không? Sao lại phải chờ mất thời giờ ở trạm xe bus khi có xe hơi chở đi? Thời giờ quí báu đó để dành đọc thêm một chương sách phải ích lợi hơn không? Kim không đáp, mắt ánh lên tia hằn học. - Người khôn ngoan - Fernando đều giọng - hơn người dại ở chỗ biết tận dụng những cơ hội đến với mình hơn là chỉ lo chìu lòng những cơn tự ái hão vô bổ! Kim khựng người, đấu tranh tư tưởng vài giây rồi “nuốt nhục” chui vào xe, người nóng hừng hực như lên cơn sốt chỉ với một ý nghĩ trong đầu “Sẽ trả mối thù này!”. Bên cạnh cô, Fernando đang khởi động xe, miệng nở một nụ cười “bề trên” biết tỏng cô nàng hận mình ngút trời mây nhưng chẳng thể làm được gì. Đến giữa mùa đông, gần Giáng Sinh trường cho nghỉ, Kim tranh thủ sang miền bắc nước Pháp thăm gia đình người dì. Lần đầu tiên trong đời cô nhìn thấy tuyết. Những bông tuyết xốp rơi rất dày, phủ trắng xóa đường phố và những mái nhà bạc đầu. Nhiệt độ ban đêm có khi xuống dưới mười độ. Nằm trên chiếc giường nệm, đắp tấm mền dày sụ và lò sưởi bật đến mức tối đa nhưng Kim vẫn không ngừng rên rỉ. Cô mặc mấy chiếc áo len, hai cái quần thun và mang những ba đôi vớ mà chưa thấy ấm. Kim phải đắp mền kín mặt vì không khí lạnh tràn vào mũi không thở được, làm cóng tai và đôi gò má như mất cảm giác. Sáng tám giờ trời vẫn còn tối mịt, những bồn hoa trước nhà bị đóng băng trông thật tội nghiệp. Kim nhìn những ngọn cỏ héo úa bị băng cầm tù, thấy mùa Đông thật kinh khủng. Một con vật nhỏ nào đó chạy ngang hiên nhà để lại vết chân ngộ nghĩnh bị lún sâu hun hút. Lũ trẻ con thấy tuyết rơi dày đến gần hai mươi centimét bèn rủ Kim cùng làm ông già tuyết. Kim mang đôi giày không đủ ấm nhưng mê tuyết nên chạy nhảy và lăn lộn trên đó cùng đám em họ. Mọi người hồ hởi nhìn thành quả cao gần hai mét, có mũi bằng cà rốt, mắt nạm khoai tây, miệng đỏ rực của cà chua và trên đầu đội cái nồi kim loại bóng loáng. Chừng mười hai giờ mặt trời lên làm tuyết tan chảy ra thành băng, Kim dù đã cố cẩn thận cũng trượt té vài lần làm lũ trẻ bật cười ra khói. Dân bên đây mang giày đinh hoặc đeo một dạng “bàn chông” vào giày mới mong không trượt ngã. Càng gần đến Giáng Sinh tuyết càng rơi rất dày, đến nỗi sáng nào đi làm dượng của Kim cũng phải nhờ mọi người lấy xẻng xúc bớt tuyết dọn đường cho xe hơi ra. Đến tối đi làm về dượng lại phải quấn dây xích vào bánh xe phòng tuyết tan thành băng làm đường trơn trợt sẽ dễ lạc tay lái. Kim nhìn người dượng tóc bạc trắng dù mới trên năm mươi, mỗi ngày đi làm đều là cực hình vì dượng phải lái xe đến hơn năm mươi cây số đến sở làm. Buổi tối nếu dượng về trễ một chút mọi người đều nhấp nhổm. Kim rên với dì sao cuộc sống bên đây cơ cực quá, dì cô cười buồn vẻ chịu đựng: “Có việc làm là may, thất nghiệp còn chết nữa! Sống ở đây yên tĩnh quá, chỉ là một ngôi làng tỉnh lẻ trên đồi cao. Hồi mới qua nhiều lúc nhìn tuyết trắng xóa chán muốn…tự tử. Gởi hình về Việt Nam ai cũng khen “Tuyết đẹp quá!” mà dì muốn khóc thét lên”. Kim chép miệng như một bà cụ non, an ủi: “Thôi thì sống ở đây cho tương lai tụi nhỏ”. Dì lắc đầu mệt mỏi: “Bên đây bây giờ không an ninh, tụi nhỏ dễ bị bắt cóc, bạo hành, làm nhục. Tụi nó tự lấy xe bus đi học, làm gì có thời gian đưa rước. Đường sá thì hoang vắng, đi lẻ loi một mình dễ bị tấn công. Thôi, sống đâu thì quen đó, chỉ mong bên nhà đừng “trông chờ” nhiều vào Việt kiều nữa!”. Dì Kim muốn cô ở lại đón Giáng Sinh nhưng cô thấy sốt ruột. Có một sợi dây vô hình nào đó kéo cô phải quay lại Oxford. Dì thở dài nhờ dượng lái xe đưa cô ra ga trước khi đi làm. Kim đành phải đi chuyến sớm lúc mới sáu giờ ba mươi. Lên tàu rồi cô lại tiếp tục ngủ vì trời vẫn đang tối mịt như đêm ba mươi. Đến gần chín giờ trời dần sáng để lộ khung cảnh bên ngoài đang phủ tuyết trắng xóa. Kim ngỡ ngàng nhận ra tàu đang đi qua những ngôi làng nằm dưới thung lũng, những cây thông chóp nhọn và các mái nhà nhỏ xinh đều phủ một màu tuyết trắng rất dày. Những làn khói xám nhẹ nhàng tỏa ra khỏi những căn nhà be bé. Hẳn người ta vừa thức dậy khơi lò sưởi cho một ngày mới, nhiều ấm áp và thanh thản. Thung lũng nối thung lũng, làng tiếp làng, những mái nhà phủ tuyết trắng nhấp nhô, vài ngôi giáo đường vương cao tháp chuông cũng đắm mình trong màu trắng mùa đông. Kim ngỡ mình đang lạc vào xứ thần tiên của một thời thơ ấu, đọc truyện cổ Andersen với “Bà chúa tuyết” hay “Cô bé bán diêm”. Thật lãng mạn cho những gì đang trải ra trước mắt, đẹp lặng người và cảm thấy thật bình an như khi cầm một tấm thiệp Giáng Sinh vẽ những ngôi làng nhỏ xinh đắm chìm trong tuyết. Nhưng Kim biết, cuộc sống không như những chuyến tàu chỉ chạy vút qua và mùa Đông không bao giờ được chờ đón. Khi Kim quay lại Anh, tuyết vẫn chưa rơi dù trời rét đậm hơn. Anh là một hòn đảo nên thường tuyết rơi trễ hơn rất nhiều so với những nước châu Âu khác. Sự trở về gấp gáp của Kim trở nên vô ích khi cô biết rằng Fernando đã về Bồ Đào Nha. Bọn sinh viên trong khu học xá phần đông đã quay về nước đón Noel với gia đình, còn lại một nhúm quê bên Châu Mỹ hay Châu Á quá xa không về được cũng bị cảm cúm sụt sịt hết. Nỗi thất vọng và không khí “bệnh hoạn” làm Kim gục ngã, cô lên cơn sốt, nằm li bì chẳng thiết ăn uống. Mùa đông quả thật khắc nghiệt, Kim nghĩ nếu mình vẫn ăn uống theo kiểu cũ và không tập thể dục chắc đã “ngủm” thật rồi. Cả đám bệnh hoạn phải thay phiên nấu súp rồi cùng động viên nhau ăn. Thúy Hà trở nên dịu dàng, tình cảm với Kim hơn khi cô ốm, thậm chí chị còn nấu cháo hành nóng cho Kim nữa. Dạo này Thúy Hà đã chính thức cặp bồ với Jean Louis người Pháp, cả hai nói tiếng Anh ẹ như nhau nên có lẽ vì thế hút nhau ở chỗ khác. Giáng Sinh Jean Louis cũng về thăm gia đình bên Pháp nên Thúy Hà có vẻ rất cô đơn. Sang đây với mục đích chính là tu nghiệp nhưng do kém ngôn ngữ, Thúy Hà tối ngày chỉ lên trường viết email và “chat” thêm một chặp rồi bỏ về đi shopping. Kim vốn không ưa cô bạn đồng hương nhưng trong lúc bệnh hoạn có người chăm sóc cũng thấy ấm lòng, cô cố nuốt chén cháo hành mà cổ họng bỏng rát như có gai cào. Kim bị viêm họng khá nặng. Thúy Hà thân tình hỏi: “Fernando đâu? Sao không đến chăm sóc em? Bình thường mê nhau lắm mà!”. Kim thở khó nhọc nhún vai không biết trả lời thế nào. Cô nghĩ có giải thích kiểu gì Thúy Hà cũng không chịu hiểu giữa cô và Fernando chỉ là chuyện học hành. Trong khi bọn Tây nhìn sơ đã biết Fernando chẳng “xơ múi” được gì. Kim nghĩ anh mà biết cô bệnh chắc còn la lối thêm vì cái tội mang đôi giày mỏng dính đi trên tuyết. Nhiều lần Kim định đến phòng khám bác sĩ nhưng cô chưa có thẻ bảo hiểm y tế, khám bệnh bên Anh rất đắt, tiền mua thuốc cũng không tưởng tượng nổi. Cô biết bị viêm họng phải uống kháng sinh mà kháng sinh không có toa bác sĩ không nhà thuốc nào chịu bán. Cuối cùng suy tính thiệt hơn, Kim đành “nuôi bệnh” hy vọng tự khỏi. Khi Fernando từ Bồ Đào Nha quay lại, anh bất ngờ đến khu học xá tìm Kim mà không báo trước. Nhìn Fernando khỏe mạnh, ánh mắt sáng rỡ, tràn đầy sinh lực, Kim càng cám cảnh cho thân mình. Anh nhíu mày nhìn cô ho khúc khắc, ốm quặt quẹo, mặt mày bơ phờ: - Sao đến nông nổi này? Mà phòng em có mùi gì ngộp thở quá? - Bệnh! – Kim đáp cụt ngủn, lòng tủi thân vô hạn – Mùi dầu gió châu Á đó! - Tại sao bệnh? - Fernando hất mặt hỏi - Đi bác sĩ chưa? - Tại vọc tuyết! – Kim lào khào trả lời thành thật – Chưa được tổ chức cấp học bổng phát thẻ bảo hiểm nên không dám đi bác sĩ, sợ không có tiền trả! Fernando quát: - Phải biết thân biết phận chứ, đã yếu mà còn không tự chăm sóc! Sức khỏe là trên hết, sao bệnh lâu như vậy mà không đi bác sĩ khám? Em đừng có nói thiếu tiền nghe, tiền em đầy nhóc trong tài khoản, tại em keo thì có! Nếu đã lỡ keo kiệt thì làm ơn thông minh hơn một chút đi, sao không gọi cho tôi? Kim bắt đầu nổi điên: - Ai biết anh ở đâu mà gọi? Anh về Bồ Đào Nha vui vẻ với gia đình có để lại cho tôi số điện thoại đâu? Lúc anh đang ăn uống sung sướng với cha mẹ thì tôi nằm rên hừ hừ cô đơn ở đây. Tôi đang bệnh mà anh còn la lối vậy đó hả? - Điện thoại di động của tôi nhận được ở khắp Châu Âu. Và tôi cũng check email mỗi ngày, sao không viết cho tôi? – Fernando cố dịu giọng lại nhưng không thể không than vãn – Trời ơi, sao mà có người khờ khạo dữ vậy nè! - Tôi không “khờ” sao để bị anh “đàn áp” chứ! – Kim nén cảm giác tủi thân quắc mắt “trả miếng” – Tôi mà “khôn” thì anh chết với tôi lâu rồi! Đồ tàn ác! Fernando bật cười: - Không biết ai ác hơn ai. Đang bệnh mà còn bày đặt hăm he tôi nữa! Kim ấm ức: - Đáng lý anh về Bồ Đào Nha cũng nên gọi cho tôi chúc một câu “Giáng sinh vui vẻ” hay “Năm mới hạnh phúc”. Trong lúc anh hưởng không khí sum họp với gia đình cũng nên tội nghiệp cho cảnh cô đơn của tôi ở đây chứ! Anh có biết là lần đầu tôi xa nhà không? - Đêm Giáng sinh và giao thừa tôi có nhớ đến em – Fernando có vẻ lúng túng trước lời trách móc nhưng cố pha trò – Nhưng tôi ngại em nghe giọng tôi rồi nhớ tôi quá, học hành không vô thì chết. - Phải! Tôi nhớ cái giọng la lối quạu quọ của anh đó – Kim vừa ho vừa lào khào nói – Có người la lối còn hơn chả có ai ngó ngàng đến! Fernando cười lớn rồi lôi Kim đi khám bệnh. Cô dùng dằng không chịu đi, tỏ ý không thèm làm phiền anh nữa. Đợi Fernando quát to đến mức những con bồ câu ngoài cửa sổ giật mình bay vụt lên “Ngoài viêm họng em còn thêm bệnh cứng đầu nữa phải không?”, Kim mới giật nẩy mình chịu líu ríu đi xuống xe cho anh chở đi bác sĩ. Cô tru tréo “Nãy giờ anh cho tôi uống thuốc bổ đủ hết bệnh rồi, còn đi bác sĩ làm chi nữa! Người gì mà không nói được một câu an ủi dịu dàng!” rồi gập người ho một trận tím tái mặt mày. Fernando mỉm cười trêu “Trời phạt!” rồi vội vàng rút khăn tay ra đưa cho Kim hỉ mũi. Anh còn tháo khăn choàng cổ của mình quấn thêm cho cô mấy vòng và cởi áo khoác đang mặc ra choàng lên người Kim. Fernando nhìn cái thân hình bé nhỏ của cô ngập trong mớ quần áo phì cười “Trông em tròn quay giống thằng bù nhìn tuyết!”. Cô không còn hơi sức nào đấu khẩu nữa, nằm ngoẹo đầu lên ghế xe. Fernado phải vươn người qua cài dây an toàn cho Kim, miệng lảm nhảm “Sao số tôi xui quá không biết!” làm cô muốn ngồi bật dậy đập cho anh một phát. Khốn nỗi lực bất tòng tâm nên cuối cùng Kim chỉ có thể nằm im như một con mèo ướt giương cặp mắt lờ đờ bệnh hoạn nhìn “kẻ thù” mặt hồng hào, khỏe mạnh, vừa huýt gió vừa lái xe chở mình đi bác sĩ. Ở phòng khám, Fernando khai mình là “người đỡ đầu” của Kim. Trước mặt bác sĩ, anh trở nên cực kỳ dịu dàng với cô. Thậm chí Fernando còn dám tỉnh bơ vuốt tóc Kim: “Cô bé này vốn thể chất yếu mà lại có tâm hồn nghệ sĩ, thích lang thang trong tuyết thật lãng mạng nên mới bị cảm nặng như vậy”. Bác sĩ kê toa cho cô dùng nhiều loại thuốc, Kim nhìn cái danh sách dài ngoằng mà hồi hộp lo cho số tiền phải trả. Thật bất ngờ, Fernando trả tiền khám bệnh cho Kim rồi dìu cô đi ra như thể cô sắp quị đến nơi. Ra khỏi cửa, Kim vùng khỏi vòng tay của Fernando rồi liếc anh sắc lẻm dù giọng vẫn còn lào khào: “Tôi sẽ trả tiền khám bệnh lại cho anh”. Fernando cười khinh khỉnh đẩy Kim lên xe: “Thôi khỏi! Keo kiệt như em nên mới chịu đựng bệnh hoạn cả mười ngày nay, giờ em phải trả tiền khám chắc tiếc đứt ruột còn bệnh nặng thêm!”. Kim nhún vai: “Biết vậy hả? Vậy thì cảm ơn, không ngại ngùng gì hết!”. Fernando lắc đầu cười như mếu: “Tôi vẫn luôn ao ước em hiền dịu hơn một chút! Hy vọng em chỉ là trường hợp cá biệt của phụ nữ Việt Nam”. Kim nhìn Fernando lạnh lùng: “Tôi cũng luôn mong anh chỉ là trường hợp “đột biến gen” của đàn ông Bồ Đào Nha”. Fernando bật cười lớn: “Thôi đừng nói nữa để yên tôi lái xe! Càng bệnh càng dữ! Không lẽ bệnh viêm họng có liên quan gì đến bệnh “dại” mà y học chưa phát hiện ra?”. Về đến khu học xá, Kim mở dây an toàn rồi quay sang Fernando lạnh lùng: “Dù sao cũng cảm ơn đã chở tôi đi bác sĩ và hào phóng trả tiền cho tôi. Tôi tự đi lên phòng được rồi, không cần đưa đâu. Anh về đi!”. Fernando giữ tay Kim lại: “Khoan! Trả khăn choàng và áo khoác lại cho tôi! Nếu không tôi mà bệnh thì cả hai ta đều chết vì em thì làm sao có thể chở tôi đi bác sĩ và lại càng không có thiện chí trả tiền khám bệnh cho tôi!”. Kim hơi ngượng, cô tháo đồ ra trả cho Fernando, miệng lầm bầm: “Chính anh quàng vào người tôi mấy cái thứ bốc mùi này!”. Fernando quắc mắt: “Nè! Vừa phải thôi! Mẹ tôi vừa giặt đó! Chính em mới đang có cái mùi dầu gió châu Á kỳ lạ, làm bám hết lên đồ của tôi rồi!”. Kim ngượng quá định nói gì đó cãi lại nhưng một cơn ho vô duyên ập đến làm cô gập người sù sụ. Fernando nhìn Kim vừa tội nghiệp vừa cười kẻ cả “Tôi đã nói là đừng có dữ mà!” rồi chồm người ra băng ghế phía sau lấy cho Kim một gói quà. Kim ngơ ngác: “Gì đây?”. Fernando nháy mắt: “Quà năm mới, một loại bánh ngọt của Bồ Đào Nha. Ho như vậy chắc ăn không được đâu. Nhưng thôi cứ đưa cho em, nếu không em lại trách không nghĩ gì đến em!”. Kim bất ngờ và xúc động không thốt nên lời, cô giả bộ tiếp tục ho. Fernando nhìn Kim đóng kịch với những cơn ho, cười cố nén rồi vòng qua mở cửa xe cho cô: “Thôi lên phòng nghỉ đi! Tôi đi ra pharmacy mua thuốc cho em xong sẽ mang lại cho”. Rồi Fernando nhìn vào mắt Kim: - Mẹ tôi làm ổ bánh này đó. Còn tôi thì có công bê lên máy bay đến tận đây. Ngon lắm nhưng để lâu không được. Em đừng mời tụi bạn trong khu học xá nghe, ngày mai tôi đến dạy em tôi ăn dùm cho. Rồi năm sau tôi nói mẹ tôi làm cho em cái khác! Fernando nói xong ôm bụng cười khi thấy Kim cầm gói quà mà mặt mày bí xị: “Em ráng dễ thương một chút đi! Rồi kỳ nghỉ Giáng sinh năm sau tôi hứa sẽ ở bên em!”. Kim vừa đi lên lầu vừa làu bàu: “Năm sau tôi về Việt Nam rồi! Ai cần anh nữa!” Dù nói thế, Kim biết cô cần Fernando kinh khủng, nhất là trong mùa Đông giá lạnh này. Mùa Đông ở đất nước sương mù thật thê lương. Trời lúc nào cũng âm u, tuyết bắt đầu rơi khi ở những nước Châu Âu khác trong đất liền đã trở nên ấm áp. Oxford phủ một màu trắng u buồn với những mái vòm cao vút đầy tuyết đứng chênh vênh. Những ngôi trường cổ kính càng thêm giá lạnh với những bức tường đá xám lại và các cánh cửa gỗ trầm mặc cô đơn. Mọi người hạn chế tối đa việc đi ra đường. Kim viện cớ mới hết ốm để khỏi lên thư viện học, cô trốn biệt trong phòng, đến mức không đi siêu thị phải nhờ mấy đứa chung nhà mua đồ ăn dùm. Không biết đứa nào “mách lẻo”, Fernando đến la lối um xùm “Phải đi ra ngoài cho quen với thời tiết, em định làm con gấu ngủ Đông suốt ba tháng sao?”. Anh lôi cô ra ngoài dù chẳng biết sẽ đi đâu, nhiệt độ đang ở mức không độ lúc ba giờ chiều. “Chúng ta không đi xe hơi – Fernando cảnh báo – Đi bộ thế này vào trung tâm”. Kim đội nón len như mấy ni cô ở Việt Nam để che hai tai lại mà vẫn có cảm giác tai đông cứng đến gần rụng. Cô nghĩ mình trông “kỳ cục” với cái nón len che sùm sụp nhưng ngoài đường ai cũng trùm đầu lại bằng đủ thứ nón mũ và khăn choàng che kín mũi. Fernando trông cũng kém đẹp trai với cái nón len dày cui như thầy chùa nhưng Kim không còn hơi sức đâu mà cười cợt, cô xuýt xoa với đôi tay lạnh cóng dù đã mang đôi găng bằng da cực dày. Mọi người cúi đầu tránh những con gió rét mướt tạt vào mặt, ai cũng đi lom khom bằng những bước ngắn nhưng lại có vẻ vội vã như đang chạy. Ở bến xe bus không ai đứng yên được một giây, cứ phải chạy tại chỗ cho cơ thể vận động liên tục. Kim thấy mấy bà già lụm cụm tám chín chục tuổi tội nghiệp chống gậy dấn từng bước khó nhọc trong làn gió tê tái. Đột nhiên có bà đánh rơi túi đựng cam. Bà già mặc đồ lùm xùm, đi đứng đã khó khăn nên nhìn mấy trái cam lăn lông lốc ra vỉa hè lúng túng không biết xử lý ra sao. Fernando và Kim cúi xuống giúp, lúc Kim đưa vào tay bà túi cam, cô cám cảnh hỏi: “Sao mấy bà ra đường làm chi vào thời tiết này? Cần mua gì thì nhờ hàng xóm giúp cho!”. Mấy bà lão bật cười, họ đồng thanh nói cô bé này đúng dân châu Á mới sang Oxford học. Bên đây không ai giúp ai cái gì, vả lại mấy người già càng cần phải ra đường mỗi ngày. “Chúng tôi mà sợ rét trốn biệt trong nhà thì chân tay cứng đờ cả lại. Đến mùa Xuân trời có ấm hơn nhưng do suốt mấy tháng mùa Đông không vận động, chúng tôi sẽ bị liệt hết. Chúng tôi phải cố gắng, mỗi ngày đều phải cố gắng với những khớp xương đau nhức này. Càng già càng phải chiến đấu với mùa Đông, phải tự cứu mình trước khi trời cứu, cháu ạ!”. Xe bus đến, mấy bà khó nhọc lục tục leo lên. Kim chạy đến đỡ nhưng họ cười đẩy cô ra: “Để chúng tôi tự lực, cô bé!”. Những hành khách khác kiên nhẫn đứng chờ dù ai cũng nóng lòng được sớm chui vào xe bus ấm áp. Kim cũng định bụng leo lên nhưng Fernando giữ tay cô lại “Tôi đã nói là chúng ta đi bộ mà!” Kim gục đầu cắm cúi bước. Những viên đá lót đường trơn trợt làm cô loạng choạng chợt ngã mấy lần. Fernando không đưa tay ra đỡ, nếu anh có đưa tay hẳn Kim cũng không thèm vịn lấy. Cô xấu hổ thấy mình không bằng mấy bà già mỗi ngày phải chiến đấu với những khớp xương rệu rã trong cái lạnh khắc nghiệt mùa Đông. Càng đi Kim càng thấy ấm hơn, vào đến trung tâm rồi cô cũng không biết Fernando sẽ đưa mình đi đâu. Cô cố gắng kiên nhẫn không chịu hỏi, đến khi thấy hai người cứ đi vòng vòng ngang qua chỗ cũ đến ba lần, cô đứng lại, thở một hơi dài làm khói bốc lên tận đỉnh một ngôi giáo đường: “Fernando, anh giỡn mặt với tôi hả?”. Fernando cả cười: “Mệt rồi sao? Thôi thì vào đây uống trà! Tôi chỉ muốn luyện cho em đi bộ trong mùa Đông thôi”. Hai người vào một tiệm trà ấm cúng, Kim đuối sức vì “hành trình” hai cây số dưới trời giá rét nên giận dỗi dán mặt vào cửa sổ nhìn ra ngoài để mặc Fernando gọi trà nóng và mấy loại bánh ngọt. Trong tấm kính cửa sổ, cô thấy hình ảnh phản chiếu Fernando đang khoan khoái pha sữa vào trà rồi ung dung ăn hết cái bánh chocolat này sang cái bánh nhân táo khác. Cuối cùng không chịu nổi mùi trà nóng ấm áp pha sữa thơm lừng và hương bánh ngọt ngào ngạt, Kim quay lại nhìn Fernando trách móc: “Không mời tôi ăn hả?”. Fernando tỉnh bơ nhìn dĩa bánh đã hết veo và bình trà cũng kịp cạn, liếm môi thòm thèm nói: “Tưởng em thích nhìn đường phố hơn. Chắc mình gọi thêm bánh, em có cần tôi đút tận miệng không?”. Lần này trà vừa kịp đem lên Kim đã hối hả pha cho mình một cốc đầy rồi đổ sữa vào đục ngầu cả lên. Cô vừa thổi vừa uống, lắng nghe thứ chất lỏng ấm áp đang lan tỏa vào từng tế bào lạnh cóng của mình. Dân Anh có lối uống trà sữa vào mỗi buổi chiều thật đặc trưng chắc cũng do trời rét quá cần nạp nhiều năng lượng. Họ ghiền trà sữa và không bỏ được thói quen uống trà vào mỗi chiều, như dân Việt Nam không bỏ được giấc ngủ trưa dù cuộc sống có trở nên bận rộn bao nhiêu. Sinh viên nước ngoài đến Anh cũng dần bị trà sữa mê hoặc và thấy mỗi buổi chiều lạnh cóng bên ly trà pha sữa ấm sực là thời điểm thật “thiêng liêng” trong ngày. Kim đang đói bụng nên chộp lấy cái bánh kem chocolat người phục vụ vừa đem đến rồi đưa lên miệng nhai ngấu nghiến, không thèm bỏ ra đĩa lấy muỗng xúc dịu dàng như mọi người xung quanh. Đến lúc thấy Fernando nhìn cô chằm chằm rồi chép miệng than “Đi với em tôi xấu hổ quá!”, Kim mới chợt giật mình. Cô vội vã liếm mép và mút những ngón tay dính đầy chocolat như một con mèo nhỏ lem luốc. Fernando nhăn mặt rút khăn tay ra đưa, Kim từ chối “Tôi có khăn giấy, anh thọt tay vô túi áo tôi lấy ra dùm”, nhưng anh đã cầm tay cô lên lau chăm chú và tiện thể chùi cả miệng vẫn còn sót một miếng bánh to tướng trong đó. Kim nhìn chiếc khăn trắng tinh bị dây bẩn bằng những vệt chocolat, xấu hổ và tức giận: “Hình như lúc nào anh cũng làm tôi trở nên... không ra thể thống gì?”. Fernando lạnh lùng: “Thôi ăn nhanh đi rồi về. Tôi không có thời gian ở đây với em suốt buổi chiều đâu!”. Kim thở hắt ra: “Nếu bận anh đi trước đi, không lẽ tôi không biết đường tự về nhà mình”. Fernando đứng dậy, anh nói mình sẽ trả tiền nên cô cứ ngồi lại ăn thong thả, nhớ lúc về cũng cố gắng đi bộ chứ đừng leo lên bất kỳ chiếc xe bus nào. Fernando đi rồi Kim mới thấy có một người ngồi kế bên dù “khắc khẩu” nhưng ấm cúng hơn rất nhiều, ngoài trời tuyết lại rơi đợt mới. Cô nuốt tiếp cái bánh còn lại một cách khó nhọc, uống tách trà sữa đã nguội lạnh rồi nặng nề khoác áo, thở dài nghĩ tới đoạn đường quay về trong thời tiết khắc nghiệt. Cô nghĩ mình không việc gì sợ Fernando đến mức phải lê gót dưới tuyết khi xe bus cứ hai phút lại tấp vào, nhưng rồi nhớ đến mấy bà già cố gắng vận động, Kim đành cắm cúi bước đi cho nhanh. Trời càng lúc càng rét, tuyết rời dày hơn, gió thốc mạnh hơn. Kim ghì tấm khăn choàng quấn kín trên đầu, một tay đút sâu vào túi áo khoác, dấn bước khó khăn. Một viên đá lót đường trơn như mỡ làm cô trượt một cú hai chân giơ bổng lên suýt ngã bật ngữa ra sau, đột nhiên có ai đó bất ngờ chụp Kim lại vào phút cuối. Vừa kịp hoàn hồn, Kim giật nẩy mình nhận ra đó là Fernando: “Anh theo dõi tôi hả?”. Anh không trả lời, đều giọng đề nghị: “Có muốn dựa sát vào người tôi không? Như thế sẽ ấm áp hơn, không bị trợt ngã nữa và quãng đường đi sẽ ngắn lại!”




















Thành công bước đầu

Dù chậm chạp so với sự mong đợi mỏi mòn của Kim, mùa Đông rồi cũng dần ra đi. Tuyết bắt đầu tan, nhỏ những giọt nước lạnh cóng từ trên mái vòm chạm khắc cầu kỳ của những ngôi trường cổ kính xuống vài người khách bộ hành đang rảo bước.
Những bức tượng đá “đội mũ trắng” suốt bao nhiêu ngày giờ bắt đầu rũ tóc, những dòng nước rỉ rả thay phiên nhau chảy xuống mũi, xuống cằm trông ngộ nghĩnh làm sao.
Lũ sinh viên lại đem xe đạp ra vi vu ở những đoạn đường khô ráo. Nhiệt độ dần dần nhích lên, gió hết mạnh, trời bớt âm u.
Một buổi sáng thức dậy, Kim chợt nhận ra mặt trời lên sớm hơn thường lệ. Nhìn ra cây cỏ bên ngoài, chồi non đang nẩy mầm, hoa hé nụ e ấp, cảnh vật xinh tươi mơn mởn. Bên kia đường, hàng cây phong cổ thụ đã có những chiếc lá xanh non nhú ra khắp lượt. Kim cột dây giày, hăm hở chạy vài vòng quanh khu học xá. Giờ Fernando chẳng cần “áp giải” cô nữa. Kim đã khỏe mạnh và năng động hơn, gò má ửng hồng không còn xám ngoét, môi không khô nứt nẻ như dạo trước. Đặc biệt đôi mắt Kim “có thần” hơn, dáng vẻ tự tin, không cúi gằm đầy tự ti như hồi mùa thu mới bên Việt Nam sang. Không có Fernando nhưng giờ con trai trong khu học xá đã bắt đầu hộ tống theo Kim khi cô chạy buổi sáng. Họ nhận ra cô nàng Việt Nam trở nên mượt mà, mắt đen láy, tóc dài cột nhổng năng động, miệng chúm chím hay cười khá có duyên.
Từ dạo Thúy Hà xong chương trình tu nghiệp về nước hồi tháng giêng, Kim lại trở thành Miss Việt Nam trong cộng đồng sinh viên khu học xá ở đây, thậm chí có vài người còn thân thiện gọi cô là Miss Châu Á khi không có Lệ Chi ở đó. Công bằng mà nói, dạo này Lệ Chi xuống sắc thấy rõ. Cô bé mặt bơ phờ do thường xuyên thức khuya, lại tập tành hút thuốc và nốc bia nên càng ngày bọn Tây càng chán. Tụi con gái châu Âu cũng thích ăn chơi, nhưng bọn chúng luôn biết tự chủ. Đa phần đều chơi thể thao và ăn uống cẩn thận. Còn Lệ Chi hẳn bị gia đình kềm cặp từ nhỏ, đến lúc xổ lồng hối hả sống, muốn dừng cũng không kịp.
- Chào Miss Châu Á - anh chàng Mauricio đẹp trai chạy đuổi theo - Hôm nay trời ấm quá!
- Có nắng rồi - Kim hào hứng - Nhưng đừng gọi em như vậy, cho em làm Miss Sài Gòn cũng hân hạnh lắm rồi.
- Ừ, ở Luân Đôn một thời có vở kịch Miss Sài Gòn nổi tiếng lắm đó!
- Lâu lắm em mới lại thấy nắng, nhớ Việt Nam quá!
- Anh cũng thấy nhớ nắng Nam Mỹ quê hương - Mauricio phụ họa rồi ngắt một bông hoa dại bên đường cài lên tóc tặng Kim - Mùa xuân đến rồi đó!
Kim ngỡ ngàng:
- Thật sao? Mùa xuân đến rồi hả?
Ở Sài Gòn với nắng nóng quanh năm, chưa bao giờ Kim thấy được hết niềm hạnh phúc khi mùa xuân đến. Mỗi lần gần Tết, nghe người ta hát “Xuân đã về! Xuân đã về!” bằng một giọng vui vẻ, Kim còn cáu thêm: “Có gì vui đâu, già thêm một tuổi, xuân xiếc cái gì!”. Nhưng sáu tháng nay ở Anh, có trải qua một mùa thu buồn ảm đạm với lá vàng rơi theo những cơn gió cắt da và một mùa đông lạnh khắc nghiệt với tuyết phủ trắng đường, mới cảm nhận được mùa xuân có ý nghĩa đến thế nào. Fernando thường hay động viên Kim: “Ráng đợi đến mùa xuân, khi thời tiết dễ chịu hơn, cảnh vật xinh đẹp lên, lúc đó em cũng sẽ yêu đời hơn, vui khỏe hơn và không còn... bị buồn ngủ nữa!”. Thật chán, anh chẳng phải là một người lãng mạn, Kim đã đợi anh kết thúc câu nói của mình bằng một lời hứa nào đó chẳng hạn như “... và tôi sẽ mời em đi ăn kem rồi hai đứa mình cùng vào rạp xem phim!”
- Kim nè! - Mauricio dừng lại thở - Anh chàng Fernando dở người đó là gì của em vậy?
Kim nhún vai không trả lời. Như chỉ đợi có thế, Mauricio hào hứng nói tiếp:
- Lúc đầu thấy anh ta chăm sóc em tận răng, tụi này cũng nghi là bạn trai. Nhưng rồi thấy anh ta thô bạo quá, chẳng tế nhị hay dịu dàng tí nào với em cả. Anh ta có bao giờ tặng hoa cho em chưa?
Kim ngao ngán:
- Anh ta thiếu điều muốn... tặng em nắm đấm khi em giải sai bài tập. Mà lúc em làm bài trúng anh ta cũng chẳng thèm khen lấy một câu chiếu lệ.
- Ừ! Tệ thật - Mauricio phụ họa - Anh chàng Fernando đó người Bồ Đào Nha, đáng lẽ phải nồng nhiệt như xứ sở đầy mặt trời của anh ta, sao lại lạnh lùng như dân Ăng-lê!
Kim nhìn Mauricio trêu chọc:
- Khác xa với anh! Sưu tầm bao nhiêu cô gái rồi? Đủ mọi màu da phải không?
- Chưa có da vàng! - Mauricio nheo mắt cười tình - Thật đó! Anh không thích Lệ Chi, sẵn sàng ngủ với tất cả mà không cần tình yêu. Cô nàng Yutaka thì như một bà già cằn cỗi. Còn Thúy Hà quả có xinh đẹp nhưng trông “quê quê”.
- Thôi đủ rồi! - Kim bật cười tuy lòng hơi bất mãn trước những nhận xét của Mauricio - Anh nhìn lại mình đi! Làm như “ngon” lắm vậy đó!
Hôm nay Kim có hẹn với giáo sư Baddley nên cô không đứng lại cà kê dê ngỗng với anh chàng người Chi-Lê ăn ớt nhiều hơn két nữa. Cô hồi hộp rảo bước đến trường. Đi ngang qua vườn Bách Thảo, Kim lặng người ngắm những chồi non nhú ra như những bàn tay trẻ con rụt rè và mũm mĩm xòe những búp lá năm cánh. Những nhánh cây trơ trụi suốt Đông giờ đều trổ những chiếc lá đầu tiên. Thiên nhiên thật kỳ diệu, tưởng như mọi cỏ cây đều chết vùi dưới cái lạnh khắc nghiệt bao nhiêu tháng, giờ đây khi thời tiết ấm lên, vạn vật đều hăm hở ngoi lên với sức sống mới. Kim lại xúc động dừng bước bên cầu Magdelen bắc ngang dòng sông Cherwell thơ mộng. Hàng liễu rũ xinh đẹp hai bên sông thay áo màu xanh nõn. Kim bất ngờ chợt nghe tiếng những con vịt xám gọi bầy, chúng cạ những chiếc mỏ bé bỏng vào nhau âu yếm ra chiều vô cùng hạnh phúc. Đôi thiên nga từ đâu lướt đến, rũ đôi cánh trắng muốt và vươn chiếc cổ kiêu kỳ soi mình xuống dòng sông xanh. Một bà mẹ trẻ đẩy xe nôi đi dạo, cánh tay nhỏ xinh của đứa bé huơ lên vui mừng vẫy gọi đám thủy cầm.
Kim ước gì mình có thể đứng lại nhìn ngắm cảnh thanh bình nhưng cô phải tiếp tục đi đến trường. Dân Anh mê những dòng sông nhỏ hay có khi chỉ là con kênh nhân tạo chảy vắt qua thành phố, họ chăm chút trồng hai bên bờ những hàng cây xanh rợp bóng, thả vào đó những con vật dễ thương cho chúng bơi lội và đặt những chiếc xuồng xinh xinh cho du khách dạo chơi. Kim ngậm ngùi nghĩ giá con kênh Nhiêu Lộc của Sài Gòn cũng được đối xử tử tế như vậy, thành phố sẽ nên thơ hơn biết bao và người dân có thể dùng “taxi xuồng” làm một phương tiện giao thông hữu ích và lãng mạn.
Khuôn viên những ngôi trường Oxford cũng trở nên xinh đẹp hơn khi mùa xuân đến. Những chiếc sân vuông của The Queen College, Trinity College, Saint John College… được phủ cỏ xanh nhung mượt, những bồn hoa dọc các lối đi đã được chăm sóc sau những tháng giá Đông, người ta trồng vào đó những cành hồng sặc sỡ, những khóm cúc vàng tươi, hoa tu-líp tím kiêu kỳ. Lũ bướm đủ màu bị mùi hương các loài hoa quyến rũ, bay lượn đầy phấn khích làm bọn chim sâu nức lòng cũng ríu rít véo von. Trước cửa sổ phòng giáo sư Baddley, những cành dây leo đang cựa mình thức dậy, chúng quấn quýt quanh kẽ hở của những viên đá xám lót tường, những nụ hoa rụt rè trổ lốm đốm đỏ trên nền những chiếc lá xanh non… Kim tự nhủ được làm giáo sư dạy trong ngôi trường danh tiếng, có một căn phòng làm việc yên tĩnh trong khung cảnh cổ kính lãng mạng như Baddley, thật hạnh phúc làm sao. Cô đi vòng ra lối hành lang, rụt rè gõ cửa phòng giáo sư. Ông lên tiếng mời cô vào. Kim thấy ông cũng tươi tắn như mùa xuân ngoài cửa sổ. Giáo sư mặc áo sơ mi màu xanh da trời và Kim nhận ra mắt ông cũng tràn ngập một màu xanh yên lành.
Giáo sư nhìn Kim ngạc nhiên:
- Em khỏe không? Tôi thấy em thay đổi khá nhiều đó! Em trông khác xa với dạo trước. Như vậy tôi cũng mừng!
- Thầy... - Kim ngỡ ngàng thấy giáo sư tỏ vẻ quan tâm đến mình nhiều như vậy - Em thấy khỏe lắm. Đặt lưng xuống là em ngủ như chết, còn lúc ăn thì nhiều gấp ba bốn lần so với hồi mới qua.
Giáo sư vui vẻ đổi đề tài:
- Tôi đã đọc đề cương làm luận văn của em. Em đã cố gắng rất nhiều. Em tiến bộ lắm. Em đã đi đúng đường rồi đó!
- Thật hả thầy? - Kim ngộp thở, không tin vào tai mình.
- Coi kìa, phải tự tin lên chứ! Không phải mấy tháng nay em đã nỗ lực hết sức mình đó sao? Em cũng đã hòa nhập được vào không khí học tập năng động và có phương pháp ở đây. Em đã đi một bước khá xa rồi đó!
Kim không đáp nên lời, cô đang vui mừng lẫn tủi hờn nhớ lại những khó khăn trong sáu tháng qua. Cố mím chặt môi nhưng Kim không tài nào giấu được những giọt nước mắt sung sướng đang trào ra. Giáo sư nhìn cô cười hiền từ, ông đột nhiên nháy mắt hóm hỉnh:
- Tôi e rằng có ai đó bày sẵn cho em phải không? Fernando làm dùm em những trang đề cương này chứ gì?
- Không! Không hề! - Kim gần như thét lên, giọng lạc đi vì phẫn nộ - Fernando chưa bao giờ làm bài giùm em, anh ta chỉ ra bài tập và bắt em tự xoay sở một mình.
- Tuy nhiên Fernando cũng bày cho em phương pháp nghiên cứu và cách lập luận?
- Anh ta bắt em làm tới làm lui cả chục lần trước khi nộp cho thầy - Kim sắp khóc òa lên - Lúc thì anh ta chê “phần đặt vấn đề ngây ngô như học trò tiểu học”, lúc lại nhận xét “cách lập luận… ngu thấy mà ớn”, có khi còn... vừa chưởi bới vừa đọc phần kết luận.
Baddley bật cười lớn tiếng:
- Anh ta nghiêm khắc hơn tôi tưởng nhiều quá! Nhưng như thế cũng không vô ích, đúng không?
Kim không biết trả lời sao, cô im lặng gật đầu. Giáo sư chỉ ra cho cô vài chỗ cần sửa lại và kết luận đề cương đã hoàn chỉnh, chỉ cần bám sát đề cương là cô sẽ hoàn thành luận văn một cách tốt đẹp. Tuy nhiên ông cũng ân cần khuyên cô tiếp tục nỗ lực hơn nữa vì trong thời gian làm luận văn cô vẫn phải hoàn tất mấy môn học khác.
- Và chắc là bây giờ em “cứng cáp” rồi – giáo sư nháy mắt – Không cần phải làm phiền Fernando nữa, để anh ta tập trung làm luận án tiến sĩ của mình. Mấy tháng qua Fernando lo kèm cặp em nên có phần lơ là trong công việc.
Kim ngạc nhiên:
- Em đâu có làm phiền anh ta! Chỉ có anh ta làm phiền em thôi!
- Thôi được rồi! – Giáo sư cười, lắc đầu – Thanh niên các em lạ thật đó! Hay là tôi người phương Tây nên không hiểu được văn hóa của em? Nhiều khi người ta cứ nghĩ người phương Tây chúng tôi tự cao tự đại, nhưng tôi lại thấy những dân tộc trông có vẻ hiền lành ở phương Đông lại có một niềm kiêu hãnh thật đáng ngạc nhiên.
Rời phòng giáo sư Baddley, Kim vừa mừng vì đề cương luận văn đã được duyệt vừa thấy bất an vì bị cho là “làm phiền” đến Fernando. Đã vậy còn bị ông thầy ám chỉ gì đó khi nói “người phương Đông có một niềm kiêu hãnh đáng ngạc nhiên”. Kim đi lang thang trong khuôn viên trường một lúc rồi ngồi xuống bên bức tượng điêu khắc của một sinh viên đặt trên cỏ. Bức tượng làm bằng một chất liệu gì đó màu đen, lên nước bóng như đá và có hình thù như một sinh vật đang suy tư trong một tư thế rất vặn vẹo. “Sao mà lúc nào cũng phải mệt óc quá vậy nè! - Kim lầm bầm, vuốt nhẹ tay lên tượng - Nhìn mày thấy đời đáng chán quá!”.
Công bằng mà nói, Fernando đã đổ nhiều công sức cho cô, dành nhiều thời giờ và sự nhiệt tình đến mức cực đoan nhằm giúp cô học tập. Nhưng Kim đâu có yêu cầu anh, đâu thèm làm phiền anh, chính anh tự đến, tự lên lịch học và can thiệp vào cả những chuyện tập thể dục hay ăn uống của Kim. Anh tự làm cho cô ghét dù biết rằng nếu không có anh chắc chắn hôm nay cô không thể được giáo sư Baddley khen ngợi. Điều này cũng đồng nghĩa với việc cô không cách gì hoàn tất nổi khóa Cao học trong một năm và về nước với bằng Thạc sĩ. Suy đi tính lại, từ ngày “gắn bó” với Fernando, Kim không bị thiệt bất cứ điều gì, chỉ “được” mà không “mất”. Thôi thì những lúc bị anh sỉ vả làm lòng tự trọng tổn thương thì đó cũng chỉ là chút “học phí” ít ỏi phải trả cho Fernando so với thời giờ và công sức anh đổ ra. Bên đây không ai cho không ai cái gì; bồ bịch, vợ chồng cũng rạch ròi tính toán chi li. Trong những quán ăn, Kim ngạc nhiên thấy ai cũng phải “tự xử”, không có chuyện nam giới phải trả tiền còn cô người yêu vểnh mặt vô tư. Đôi tình nhân sống chung một phòng cũng phải chia tiền thuê sòng phẳng. Ăn uống, điện nước, lò sưởi cũng chia đều. Đời anh anh lo, đời em em lo, dù có ăn chung bàn hay ngủ chung giường. Bình đẳng tuyệt đối nên tình yêu mới thật sự trong sáng.
Thời gian đầu sang Oxford, Kim hay bất mãn khi thấy con người đối xử với nhau quá rạch ròi. Hôm nay một sinh viên ở chung nhà mượn cô bịch mì spaghetti, ngày mai cô sẽ được trả lại đúng nhãn hiệu này. Thậm chí Kim có vui vẻ cho luôn cũng không ai đồng ý. Chỉ khi nào chủ nhân đem đồ ăn dư xuống bếp và viết giấy ghi rõ “Tự ý dùng” thì mọi người mới dám lấy ăn. Không có chuyện xin nhau dù trái ớt hay củ hành bé nhỏ, càng không nên mượn dùng chung quá thường xuyên những dụng cụ học tập, sách vở hay quần áo như người Việt Nam. Ai cũng có lòng tự trọng từ những chuyện chi li nhất. Trong những buổi họp mặt thì mỗi người làm một món góp vào, ai không được mời thì đừng dẫn xác đến, hoặc nếu có lỡ đến thì nên đi về, cũng chẳng ai giữ lại theo kiểu “thêm một cái chén chứ bao nhiêu”. Sinh nhật hay tiệc tùng nếu chủ nhân mời phải biết đem hoa, rượu, chocolate, trái cây hay một món quà đến. Đi “tay không” sẽ tự thấy xấu hổ và trông mình kỳ cục như… không mặc quần áo. Kim thấy mọi người rạch ròi như vậy đôi khi không được tình cảm nhưng chẳng ai nợ ai cái gì, không ai có thể lợi dụng ai và cũng không người nào cảm thấy bị “chơi gác”. Rốt rồi cô lại thấy câu ngạn ngữ tụi bên đây hay nói “Sòng phẳng làm nên tình bạn tốt” cũng đúng lắm.
Tiền bạc là thứ có thể “tái tạo”, là vật chất có thể trả vay mà tụi Tây còn không muốn lôi thôi nói chi đến thời gian là thứ quí giá vô cùng ở cái nơi luôn phải chạy đua từng giây một. Học phí của Oxford thuộc loại cực kỳ cao trong hệ thống giáo dục thế giới, chỉ có con em dân quí tộc, gia đình quyền thế hay thương gia giàu có mới kham nổi, còn sinh viên có học bổng càng phải cam kết đạt điểm cao nhất trong thời hạn qui định nên không ai muốn mình phải trễ một năm học, phải chậm một học kỳ hay phải nợ một tín chỉ. Tất cả đều được qui ra tiền, lạnh lùng, thật đắt. Chương trình học ở Oxford khá nặng, lại thiên về tự học nên ai cũng tranh thủ tối đa. Tranh thủ vừa ăn trưa vừa đánh máy, vừa đọc sách vừa đi xe bus, vừa đứng chờ máy giặt vừa làm vài động tác thể dục, vừa xem truyền hình vừa làm bếp, thậm chí ở nơi riêng tư tối đa là trong WC mà còn ráng tranh thủ ôm máy tính xách tay đánh lia lịa. Có đứa còn đùa “Ở trong đó sướng lắm, bao nhiêu thứ đều tranh thủ tuôn ra, kể cả ý tưởng”.
Sống ở nơi thời giờ thật sự là vàng bạc, Kim cũng nhiều lần bó tay trước câu hỏi vì sao Fernando tuần nào cũng dành cho cô mấy tiếng đồng hồ quí giá. Trong suốt khoảng thời gian mấy tháng trời từ lúc anh bắt đầu kế hoạch “phụ đạo” cho đến nay, nếu phải trả lương cho một gia sư dạy Cao học, có kinh nghiệm làm trợ lý giáo sư và “thương hiệu” mạnh trong giới Oxford như Fernando, Kim hẳn đã sạt nghiệp không còn một xu dằn trong tài khoản ngân hàng. Đó là chưa kể thời giờ anh làm huấn luyện viên “áp giải” cô chạy bộ, làm tài xế đưa đi bác sĩ, làm bốc vác cho mớ lương thực mỗi tuần đi siêu thị. Lạy Chúa, còn khoản thời giờ Fernando chấm bài tập ở nhà và sửa các tiểu luận vài chục trang cho Kim nữa, càng tính cô càng thấy chóng mặt. Nhưng sự thật là Kim không hề cảm thấy phải nợ nần gì ai và vẫn còn ấm ức bao phen bị anh làm phiền phải khóc lên khóc xuống. Nghĩ được như thế Kim mỉm cười đứng dậy nhưng áo khoác cô bị bức tượng “vặn vẹo” níu lại mạnh đến mức té lăn ra cỏ. Thở dài nhìn khuôn mặt “đăm đăm” của bức tượng, cô thấy cuộc đời quả khó chịu. Giáo sư Baddley đáng kính mà còn nói Kim làm phiền Fernando thì đám sinh viên trẻ người non dạ xung quanh càng cho là cô nhất định phải “ơn nặng như núi” với anh. Cuối cùng Kim quyết định tìm gặp Fernando để hỏi cho ra lẽ “Rốt cuộc ai làm phiền ai?”.
Cửa phòng làm việc của Fernando không khép kín, Kim thấy vài sinh viên nữ đang cười nói vây quanh bàn anh hỏi thăm gì đó. Làn da rám nắng của người đến từ một nước miền nam châu Âu bên bờ Địa Trung Hải, đôi mắt thông minh và cái vẻ nghiêm trang nhưng nụ cười thân thiện của Fernando làm bọn sinh viên bản địa rất hâm mộ. Bọn con gái da trắng như sáp, núc ních và mặt đầy tàn nhang cũng thường kháo nhau Fernando quan tâm đến Kim một cách đặc biệt. Fernando đang từ tốn trả lời từng người. Khi còn lại một mình, anh có vẻ mệt mỏi. Fernando ngáp một cái nghe rõ kêu làm Kim đứng bên ngoài cũng phải giật mình.
- Thì ra anh cũng biết buồn ngủ hả? - Kim bước vô phòng không gõ cửa.
Tiếp tục ngáp thêm vài cái thật thoải mái, Fernando hỏi:
- Tại sao không? Em làm như chỉ có mình em được “độc quyền” khoái ngủ. Giáo sư Baddley nhận xét đề cương tốt chứ?
- Phải! - Kim trả lời vui vẻ - Thầy nói em đã đi được nửa đoạn đường rồi, chỉ cần bám sát đề cương là xong.
Fernando cười chiến thắng:
- Có thế chứ! Thầy tuy đôn hậu nhưng rất nghiêm khắc! Được nghe Baddley khen không dễ đâu!
Kim ngập ngừng:
- Em nghĩ… Em phải cảm ơn anh!
Fernando thôi không ngáp nữa, mặt làm ra vẻ vô hồn vô cảm. Kim kéo ghế ngồi xuống đối diện. Cô nhận ra hiếm có dịp mình được nhìn thẳng mặt anh như thế này. Mắt Fernando màu nâu thăm thẳm với hàng lông mi dài cong vút. Tại sao hồi nào đến giờ Kim chỉ toàn nhìn anh len lén một cách thật tự ti? Rồi thì nếu không giương mắt nhìn căm thù, Kim cũng sẽ nhòe nhoẹt nước mắt trước người con trai sắt đá này.
- Sao lâu quá không thấy anh cười dịu dàng với em? - Kim hỏi, tuy giọng có vẻ châm chọc nhưng thật tình - Em nhớ lần đầu gặp anh, cũng trong phòng này, anh cười tươi ơi là tươi, mắt anh thật sáng. Lúc đó em thấy anh đẹp trai như tài tử Jude Law và dễ thương vô cùng!
- Vậy hả? - Fernando bật cười trước vẻ chân thành của Kim - Thì chính em làm cho anh ra nông nổi này chứ ai! Trước khi gặp em anh “phong độ” bao nhiêu thì bây giờ anh như một thằng xì-ke thế này!
- Anh nói sao? - Kim kinh ngạc trước lời “chụp mũ”.
Fernando tiếp tục “tố”:
- Không phải sao? Trong khi anh ngày càng “thân tàn ma dại” thì em lại “phơi phới” hẳn ra. Không tin lấy gương ra soi đi! Lên ít nhất là ba ký! Thần sắc tươi tắn, da mặt mịn màng! Trời ơi, hôm nay em còn thoa son nữa!
Kim ngượng quá la toáng lên:
- Anh... anh vô duyên quá! Thì ra anh cũng biết quan tâm đến cái đẹp hả?
- Em mới vô duyên! - Fernando nhún vai, giọng khinh khỉnh - Con trai nào không thích nhìn con gái xinh đẹp? Vì vậy anh mới bắt em tập thể dục, ăn cho đủ chất, ngủ cho đúng giờ, làm việc có phương pháp!
- Thôi! Lại bắt đầu lên giọng ta đây! Thì hôm nay em trả ơn!
- Trả cái gì? - Mặt Fernando làm bộ thờ ơ - Phải xứng đáng đó!
- Hôm nay em mời anh ăn tối ở một nhà hàng sang trọng nào đó mà anh muốn. Rồi... rồi... rồi nếu anh thích đi xem phim thì em “đài thọ” luôn.
- Vậy thôi hả? - Fernando ra vẻ thất vọng - Sáu tháng trời đau khổ của anh: không có ngày cuối tuần đi chơi với bạn bè, không có một buổi tối rảnh rỗi xem đá banh trên ti-vi, không có một buổi sáng được ngủ thẳng giấc. Nè, đó là anh chưa nói lúc trước con gái theo anh nhiều lắm, từ ngày thấy anh “o bế” em dữ quá, còn ai dám “nhào vô”!
- Đáng đời anh! - Kim cười nắc nẻ nhận ra hồi nào đến giờ mình đã “trả thù” rồi mà không biết - Vậy nhé, tối này em chờ anh ở khu học xá.


(Còn nữa)Truyện hay Oxford thương yêu-Dương Thuỵ

ảnh Kênh Truyện

Mô tảArray Truyện-Hay-Oxford-Thương-Yêu-Dương-Thuỵ Array
____________
Về bài viết

blog/blog-truyen-hay-oxford-thuong-yeu-duong-thuy--full.html blog/blog-truyen-hay-oxford-thuong-yeu-duong-thuy--full.html

Trang đọc bạn đang xem miễn phí kenh truyen truyen hay oxford thuong yeu duong thuy

http://kenhtruyen.mcatbui.net/blog/blog-truyen-hay-oxford-thuong-yeu-duong-thuy--full.html

Web mobile xem kenh truyen tại chuyên mục truyen ngan hay truyen hay oxford thuong yeu duong thuy

• Bài viết khác
» Truyện Oxford Thương Yêu-Dương Thụy-part 3
» Oxford Thương Yêu Phần Tiếp 2
» Những Câu Chuyện Hạt Giống Tâm Hồn
» Cách Nhìn Của Mỗi Người
» Người Dệt ước Mơ, Xem Truyen Ngan
» Truyện Hay Cha Tôi
» Câu Nói Bất Hủ Của Bill Gates
» Người Chạy Cuối Cùng
» Tình Yêu Tạo Nên Lẽ Sống
» Có Công Mài Sắt...
» Không đầu Hàng Số Phận
» Những Chiến Binh Tí Hon
» Tôi Là Con Thắm, Con Bà Tư Bánh Tằm
» Truyện Ngắn : Tôi Là Con Thắm, Con Bà Tư Bánh Tằm…
» Trời Lại Mưa, đến Không Báo Trước.
» Mưa
» Thầy ơi...
» Gửi Thầy.
» Anh Yêu Em , Con điếm Của Anh ạ !
» Ê Nhóc, Tao Yêu Mày!