> Nguyễn Trãi - Người Anh Hùng Dân Tộc
• Thể loại: Góc học tập
• Đăng lúc: 07/05/2013 - 11:49
• 876 xem - 73 [Thích]
Nguyễn Trãi - Người Anh Hùng Dân Tộc
07/05/2013 - 11:49  Hình ảnh Nguyễn Trãi - Người Anh Hùng Dân Tộc Góc học tập  anh dep wap anh dep full hd mobile di dong
Download file
Nguyễn Trãi - Người anh hùng dân tộc, danh nhân văn hoá thế giới

Category: LamGam.TK, Tag: Nhà trẻ Mẫu giáo,Trường lớp Học tập
07/24/2010 06:23 pm
Nguyễn Trãi - Người anh hùng dân tộc, danh nhân văn hoá thế giới



Nguyễn Trãi (1380 - 1442)
Nguyễn Trãi, sinh ở Thăng Long trong gia đình ông ngoại là quan Đại tư đồ Trần Nguyên Đán. Cha ông là Nguyễn ứng Long, hiệu ức Trai (tức là Nguyễn Phi Khanh). Mẹ ông là Trần Thị Thái, con gái Trần Nguyên Đán.
Năm Nguyễn Trãi lên 5 tuổi, mẹ ông mất. Sau đó không lâu, Trần Nguyên Đán cũng mất. Ông về ở với cha tại quê nội ở làng Nhị Khê.

Năm 1400, để cứu vãn chế độ phong kiến đang khủng hoảng trầm trọng, Hồ Quý Ly lật đổ nhà Trần và tiếp tục thi hành các cải cách như chính sách hạn nô, hạn điền, tổ chức lại giáo dục, thi cử và y tế.

Cũng năm 1400, sau khi lên ngôi Vua, Hồ Quý Ly mở khoa thi. Nguyễn Trãi ra thi, ông đỗ Thái học sinh (tiến sĩ) năm ông 20 tuổi. Hồ Quý Ly cử ông giữ chức Ngự sử đài chánh chưởng. Còn cha ông là Nguyễn Phi Khanh đỗ bảng nhãn từ năm 1374, được Hồ Quý Ly cử giữ chức Đại lý tự khanh Thị lang tòa trung thư kiêm Hàn lâm Viện học sĩ tư nghiệp Quốc Tử Giám.

Năm 1406, Minh Thành Tổ sai Trương Phụ mang quân sang xâm lược Việt Nam. Nhà Hồ đem quân ra chống cự, nhưng bị đánh bại. Cha con Hồ Quý Ly và một số triều thần trong đó có Nguyễn Phi Khanh bị bắt và bị đưa về Trung Quốc.

Nghe tin cha bị bắt, Nguyễn Trãi cùng em là Nguyễn Phi Hùng khóc theo lên tận cửa Nam Quan với ý định sang bên kia biên giới để hầu hạ cha già trong lúc bị cầm tù.

Nhân lúc vắng vẻ, Nguyễn Phi Khanh bảo Nguyễn Trãi:

- Con là người có học, có tài, nên tìm cách rửa nhục cho nước, trả thù cho cha. Như thế mới là đại hiếu. Lọ là cứ phải đi theo cha, khóc lóc như đàn bà mới là hiếu hay sao?

Nguyễn Trãi nghe lời cha quay trở lại tìm con đường đánh giặc, cứu nước.

Về đến Thăng Long, ông bị quân Minh bắt. Thượng thư nhà Minh là Hoàng Phúc biết Nguyễn Trãi là một nhân vật có tài, tìm cách dụ dỗ, nhưng ông kiên quyết không theo giặc.

Sau một thời gian bị giam lỏng ở Đông Quan (tức Thăng Long), Nguyễn Trãi vượt được vòng vây của giặc vào Thanh Hóa theo Lê Lợi. Ông gặp vị thủ lĩnh nghĩa quân Lam Sơn ở Lỗi Giang. Ông trao cho Lê Lợi bản chiến lược đánh đuổi quân Minh mà sử sách Việt Nam gọi là Bình Ngô sách.

Trong bài tựa ức Trai di tập, Ngô Thế Vinh cho biết: Bình Ngô sách "hiến mưu trước lớn không nói đến việc đánh thành, mà lại khéo nói đến việc đánh vào lòng người".

Lê Lợi khen chiến lược của Nguyễn Trãi là đúng. Và ông đã vận dụng chiến lược này để đánh quân Minh. Từ đây, ông thường giữ Nguyễn Trãi gần bên mình để cùng bàn mưu tính kế đánh quân Minh.

Cuối năm 1426, Lê Lợi lập bản doanh ở bến Bồ Đề (Gia Lâm). Tại đây, ông cho dựng một cái chòi cao ngang bằng tháp Báo Thiên ở Đông Quan. Lê Lợi ngồi tầng thứ nhất của chòi, Nguyễn Trãi ngồi tầng thứ hai. Hai nhân vật luôn luôn trao đổi ý kiến với nhau.

Trong kháng chiến, Nguyễn Trãi chủ trương phải dựa vào dân thì mới đánh được giặc, cứu được nước. Khi kháng chiến đã thắng lợi, ông cũng thấy rằng phải lo đến dân, thì mới xây dựng được đất nước. Trong tờ biểu tạ ơn được cử giữ chức Gián nghị đại phu tri tam quân sư, ông đã viết: "Chí những muốn, việc cố nhân đã muốn: để tâm dân chúng, mình lo trước điều thiên hạ phải lo".

Năm 1437, khi vua Lê Thái Tông cử ông định ra lễ nhạc, ông cũng nói cho vua biết những điều mà vua phải làm trước hết là chăn nuôi nhân dân:

- Dám mong Bệ hạ rủ lòng yêu thương và chăn nuôi muôn dân khiến cho trong thôn cùng xóm vắng, không có một tiếng hờn giận oán sầu. Đó tức là giữ được cái gốc của nhạc.

Do luôn luôn "lo trước điều thiên hạ phải lo, vui sau cái vui của thiên hạ", Nguyễn Trãi lúc nào cũng sống một cuộc đời giản dị, cần kiệm liêm chính. Nhà của ông ở Đông Kinh (Thăng Long) chỉ là một túp nhà tranh (góc thành Nam lều một gian). Khi ông cai quản công việc quân dân ở hải đảo Đông Bắc, nhà của ông ở Côn Sơn "bốn mặt trống trải, xác xơ chỉ có sách là giàu thôi" (thơ Nguyễn Mộng Tuân, bạn Nguyễn Trãi).

Bài Bình Ngô đại cáo của ông là một "thiên cổ hùng văn". Đó là một thiên anh hùng ca bất hủ của dân tộc.

Quân trung từ mệnh tập của Nguyễn Trãi là những thư từ do ông viết trong việc giao thiệp với quân Minh. Những thư này là những tài liệu cụ thể chứng minh đường lối ngoại giao vào địch vận hết sức khéo léo của Lê Lợi và Nguyễn Trãi làm cho quân Lam Sơn không mất xương máu mà hạ được rất nhiều thành.

Quốc âm thi tập của Nguyễn Trãi là tác phẩm xưa nhất bằng Việt ngữ mà chúng ta còn giữ được. Tác phẩm này rất quan trọng cho công tác nghiên cứu lịch sử văn học Việt Nam và lịch sử ngôn ngữ Việt Nam.

Năm 1442, cả gia đình ông bị hãm hại (tru di tam tộc) khiến cho người đương thời vô cùng thương tiếc.

Năm 1464, vua Lê Thánh Tông hạ chiếu minh oan cho Nguyễn Trãi, truy tặng quan tước và tìm hỏi con cháu còn sót lại.

Nguyễn Trãi là một nhân vật vĩ đại trong lịch sử Việt Nam. ông là anh hùng dân tộc, là nhà tư tưởng, nhà thơ, nhà văn hóa lớn của nước ta. Tâm hồn và sự nghiệp của ông mãi mãi là vì sao sáng như Lê Thánh Tông truy tặng "Ưc Trai tâm thượng quang Khuê Tảo".

(Giáo sư sử học Văn Tâm )

___________________________________________________________________________________

* Nguyễn Trãi là người anh hùng thủa "Bình Ngô", văn võ toàn tài.

Sự nghiệp trước tác của Nguyễn Trãi

1. "Quân trung từ mệnh tập".

- "Bình Ngô Đại Cáo"

"Dư địa chí "... "Lam Sơn thực lực"

" Phú núi Chí Linh", "Quốc âm thi tập", "Ức Trai thi tập",

- v.v...

2. Nội dung thơ văn Nguyễn Trãi .

a) Tư tưởng nhân nghĩa, yêu nước và thương dân sâu sắc
- Thương dân, trừng phạt kẻ có tội (điếu phạt) tiêu diệt quân tàn bạo hại nước hại dân (trừ bạo), đem lại yên vui, hạnh phú c cho nhân dân (yên dân), đó là việc nhân nghĩa:

"Việc nhân nghĩa cốt ở yên dân
Quân điếu phạt trước lo trừ bạo"
- Sức mạnh nhân nghĩa là sức mạnh Việt Nam để chiến thắng thù trong giặc ngoài. Đó là "Đại nghĩa" (nghĩa lớn vì nước vì dân), là lòng "chí nhân" (thương người vô hạn):

"Đem đại nghĩa để thắng hung tàn,
Lấy chí nhân để thay cường bạo"

- Lòng căm thù giặc sôi sục, quyết không đội trời chung với quân "cuồng Minh":

Ngẫm thù lớn há đội trời chung,
Căm giặc nước thề không cùng sống

- Tư tưởng nhân nghĩa của Ức Trai luôn luôn gắn liền với lòng "trung hiếu" và niềm "ưu ái" (lo nước, thương dân).

"Bui có một lòng trung lẫn hiếu
Mài chăng khuyết, nhuộm chăng đen"

(Thuật hứng - 24)

"Bui một tấc lòng ưu ái cũ,
Đêm ngày cuồn cuộn nước triều Đông"

(Thuật hứng - 5)

b) Văn thơ Nguyễn Trãi thể hiện tình yêu thắm thiết đối với thiên nhiên, đối với quê hương, gia đình.

- Yêu thiên nhiên:

+ Yêu cây cỏ hoa lá, trăng nước mây trời, chim muông ...

"Hái cúc ương lan, hương bén áo
Tìm mai, đạt nguyệt, tuyết xâm khăn"

"Kho thu phong nguyệt đầy qua nóc
Thuyền chở yên hà nặng vạy then"

"Cò nằm, hạc lẩn nên bầy bạn
Ủ ấp cùng ta làm cái con"

+ Yêu quê hương gia đình:

"...Ngỏ cửa nho, chờ khách đến
Trồng cây đức, để con ăn"

"Nợ cũ chước nào báo bổ
Ơn thầy ơn chúa liễn ơn cha"

"Quê cũ nhà ta thiếu của nào
Rau trong nội, cá trong ao"

+ Yêu danh lam thắng cảnh.

"Muôn hàng giáo ngọc tre gài cửa
Bao dải tua châu đá rủ mành"

(Đề chùa Hoa yên, núi Yên Tử)

"Một vùng biếc sẫm gương lồng bóng,
Muôn hộc xanh om tóc mượt màu"

(Vân Đồn)

"Kình ngạc băm vằm non mấy khúc
Giáp gươm chìm gẫy bãi bao tầng"

(Cửa biển Bạch Đằng)

c) Một cuộc đời thanh bạch, một tâm hồn thanh cao.

...."Một tầm lòng son ngời lửa luyện.
Mười năm thanh chức ngọc hồ băng"

..."Nước biển non xanh thuyền gối bãi
Đêm thanh nguyệt bạc khách lên lầu".

"Say minh nguyệt, chè ba chén
Thú thanh phong, lều một gian "

"Sách một hai phiên làm bậu bạn.
Rượu năm ba chén đổi công danh"

3. Nghệ thuật

- Văn chính luận như "Bình Ngô Đại Cáo" thì hùng hồn, đanh thép, sắc sảo, đúng là tiếng nói của một dân tộc chiến thắng, một đất nước có nền văn hiến lâu đời.

- Thơ chữ Hán hàm súc, tinh luyện, thâm trầm. Thơ chữ Nôm bình dị mà tài hoa, thiết tha đằm thắm. Thơ thất ngôn xen lục ngôn là một dấu ấn kì lạ của nền thơ chữ Nôm dân tộc.

Nguyễn Trãi là anh hùng dân tộc, nhà văn hoá vĩ đại, là đại thi hào dân tộc. Nguyễn Trãi còn là ông tiên ở trong lầu ngọc mà tâm hồn lộng gió thời đại. Cuộc đời và thơ văn Nguyễn Trãi là bài ca yêu nước, tự hào dân tộc.

_____________________________________________________________________

*Nguyễn Trãi, sinh năm Canh Thân, tại Thăng Long, mất năm Nhâm Tuất.



Đền thờ Nguyễn Trãi

Đền thờ Nguyễn Trãi được khởi công xây dựng ngày 14-12-2000, trên khuôn viên đất rộng gần 10.000m2, tại chân núi Ngũ Nhạc, nằm trong khu vực Thanh Hư Động và gần nơi ngày xưa từng có đền thờ bà Trần thị Thái, thân mẫu của Nguyễn Trãi. Phía bên phải là dòng suối Côn Sơn chảy từ Bẵc xuống Nam, uốn lượn từ phải qua trái, ôm lấy khu Đền và đem cái mát lành, êm dịu, tươi tốt cho cả một vùng suốt chiều dài dòng suối chẩy qua.


Công trình được xây dựng, chia làm 2 giai đoạn :
- Giai đoạn 1 : Năm 2001 - 2002, kinh phí 9.421 triệu đồng.

- Giai đoạn 2 : Năm 2004 - 2007.

Tổng kinh phí đầu tư cả hai giai đoạn tính đến nay là trên 20 tỉ đồng.

Đền thờ chính, hai nhà Tả vu, Hữu vu, Nghi môn nội, Nghi môn Ngoại, Nhà Bia, Am hoá vàng, cầu vào cổng chính, cầu qua suối Côn Sơn theo kiểu thượng gia hạ kiều để lên Thạch Bàn, nhà từ đền, hệ thống sân vườn, đường cấp thoát nước ...

Ngôi đền chính tưa lưng vào Tổ Sơn, hai bên tì vào hai dãy núi Ngũ Nhạc và Kỳ Lân là tả Thanh long và hữu Bạch hổ. Phía trước có hồ nước rộng, tiếp theo là núi Trúc Thôn đối diện với núi Phượng Hoàng. Xa xa là dãy núi An Lạc đã tạo lên thế núi lớp lớp điệp trùng.


Đền thờ Nguyễn Trãi là công trình trọng điểm nằm trong quần thể khu di tích Côn Sơn - Kiếp Bạc, kiến trúc theo truyền thống và rất độc đáo ; với một nguồn lớn kinh phí cùng với những người có tâm đức, các Nghệ nhân và những người thợ khéo tay, cần mẫn lao động hơn 2.500 ngày để có được công trình hôm nay, thoả mãn cao nhất nhu cầu du lịch gắn với lịch sử và tâm linh của các thế hệ mai sau.



Ngày nay có đền thờ Nguyễn Trãi trong quần thể khu di tích Côn Sơn - Kiếp Bạc - Đó là sự quan tâm của Đảng và Nhà nước, là truyền thống đạo lý uống nước nhớ nguồn của dân tộc, đó là đạo đức lương tâm của con người. đó là tinh hoa khí phách.của người Việt Nam.



. Mỗi chúng ta khi đến thắp hương tưởng nhớ Nguyễn Trãi, đứng trước ông, trong giây phút ta tĩnh tâm, suy ngẫm, soi lại và tự biết mình : Cao thượng hay thấp hèn, lương thiện hay độc ác, chính hay tà ... để tự sửa. Tôi tin và mong muốn rằng, người đến thắp hương tưởng nhớ Nguyễn Trãi xong, tâm sẽ sáng thêm, lòng hướng làm việc thiện, không làm việc ác và không bao giờ dám làm việc ác như bọn gian thần phong kiến đã đối xử với Nguyễn Trãi.


Tổ tiên của Nguyễn Trãi ở xã Chi Ngãi, huyện Phượng Sơn, nay thuộc xã Cộng Hoà, huyện Chí Linh, tỉnh Hải Dương. Thân phụ là Nguyễn ứng Long, một danh sỹ nổi tiếng đương thời, đến học tập, lập nghiệp ở làng Ngọc ổi, huyện Thượng Phúc, nay là xã Nhị Khê, huyện Thường Tín, tỉnh Hà Tây, trở thành vị tổ đầu họ Nguyễn Nhị Khê sau này. Năm Long Khánh 2(1374). Nguyễn ứng Long thi đậu thái học sinh, nhưng không được vua Trần trọng dụng ; tháng chạp năm Tân Tỵ(1401), đổi tên là Nguyễn Phi Khanh, ra làm quan cho nhà Hồ, giữ chức Hàn lâm viện Thừa chỉ học sỹ, kiêm Quốc tử giám Tư nghiệp : năm 1407, bị giặc Minh bắt về Trung Quốc ; khoảng năm Mậu tý(1408) thì mất, mộ táng ở núi Bái Vọng, huyện Chí Linh. Thân mẫu là Trần thị Thái, con gái thứ 3 quan Tư đồ Trần Nguyên Đán. Bà thông minh, hay chữ, khi còn là học trò từng nhiều lần xướng hoạ với thầy. Năm 1385, bà cùng thân phụ sống ở Côn Sơn, được ít lâu thì quy tiên.


Tuổi thơ, Nguyễn Trãi sống với ông ngoại ở Thăng Long ; từ năm 1385, theo ông và thân mẫu về Côn Sơn. Sau khi quan tư đồ qua đời(1390), ông về ở Nhị Khê với cha. Đươc hai người thầy lớn là ông ngoại và thân phụ dậy dỗ, ông sớm phát triển tài năng, hoàn thiện nhân cách, nuôi hoài bão lớn. Từ nhỏ Nguyễn Trãi đã thông minh hơn người, năm Canh Thìn(1400) niên hiệu Thành Nguyên thứ nhất thời nhà Hồ mở khoa thi đầu tiên, Nguyễn Trãi ra thi, ông đỗ thái học sinh(tiến sỹ). Sau khi đỗ, ông được Hồ Quý Ly trao cho chức Ngự sử đài chánh chưởng. Thế là hai cha con cùng làm quan ở triều đình và cùng giúp nhà Hồ cẩi cách kinh tê, chính trị và văn hoá, nhằm đưa xã hội Việt Nam/COUNTRY-REGION /> sang một giai đoạn phát triển mới


Hồ Quý Ly đang thi hành việc cải cách thì quân Minh do Trương Phụ chỉ huy mở cuộc xâm lược vào nước ta với danh nghĩa"phù trần, diệt Hồ". Hồ Quý Ly cùng con là Hồ Nguyên Trừng mang quân ra chống cự, nhưng bị thất bại và bị bắt đưa về Trung Quốc. Trong số triều thần bị bắt có Nguyễn Phi Khanh.


Được tin cha bị bắt, Nguyễn Trãi cùng em là Nguyễn Phi Hùng lần đến chỗ quân Minh giam giữ tù binh tìm cha, rồi hai anh em theo đoàn xe giải tù lên ải Nam Quan với ý định phụng dưỡng cha già.


Nguyễn Phi Khanh biết rằng ông đi chuyến này có thể không bao giờ trở về Tổ quốc nữa cho nên nhân lúc vắng vẻ, ông bảo Nguyễn Trãi rằng ." Con là người có học, có tài nên tim cách rửa nhục cho nước, trả thù cho cha, như thế mới là đại hiếu, lọ là cứ phải theo cha khóc lóc như đàn bà mới là hiếu hay sao !"Rồi Phi Khanh bảo Nguyễn Trãi quay trở về, chỉ để Phi Hùng theo ông sang Trung Quốc để khi ông chết thì đem hài cốt về ...


+ + +

Nguyễn Trãi gạt nước mắt từ biệt cha già và em rồi quay trở lại tìm đường cưu nước.


Vê đến thành Đông Quan, Nguyễn Trãi bị quân Minh bắt. Tướng giặc là Trương Phụ biết Nguyễn Trãi là nhân vật tài cao chí cả, y cố dụ dỗ ông ra làm quan với nhà Minh. Nguyễn Trãi kiên quyết từ chối. Tức giận, Trương Phụ định đem ông chém. Thượng thư Hoàng Phúc khôn kheo hơn, biết rằng muốn dụ dỗ một người như Nguyễn Trãi thì một ngày không thể làm được. Y can ngăn Trương Phụ tha không giết nhưng chúng buộc ông phái sống ở thành Đông Quan là nơi có đại bản doanh của quân xâm lược.


Năm 1407, giặc Minh xâm lược nước ta, ông theo lời dặn "Tận trung là tận hiếu", bao đêm trăn trở kế bình Ngô, hàng chục năm nung nấu chi giết giặc. Khi Lê Lợi dựng cờ, ông đến Lam Sơn tụ nghĩa, dự Hội thề ở Lũng Nhai, dâng Bình Ngô Sách ở Lỗi Giang, "10 năm ở nơi màn trướng, 5 phen miệng hổ lăn mình", đem tài chí tính kế bàn mưu, dốc tâm huyết viết thư thảo hịch, một lòng thành giúp Thái tổ nhà Lê lập nên nghiệp lớn.


Trong "Bình Ngô sách", ông vạch ra chiến lược - chiến thuật đánh quân Minh. Theo bài tựa của Ngô Thế Vinh trong ức Trai di tập thì Bình Ngô sách"hiến mưu chước lớn, không nói đến việc đánh thành mà lại khéo nói đến việc đánh vào lòng người. Cuối cùng nhân dân và đất nước của mười lăm đạo nước ta đều đem về cho ta cả".


Lê Lợi xem "Bình Ngô sách" khen là phải và dựa vào đấy cùng Nguyễn Trãi vạch ra chiến lược, chiến thuật đánh quân Minh. Ngay sau khi xem "Bình Ngô sách", Bình định vương Lê Lợi đã trao cho Nguyễn Trãi chức Tuyên Phụng đại phu hàn làm thừa chỉ và luôn giữ ông ở bên mình để bàn mưu tính kế đánh giặc.


Ngoài việc cùng Lê Lợi vạch ra chiến lược, chiến thuật, Nguyễn Trãi còn làm tất cả các công việc giao thiệp với quân Minh. Nhân danh Lê Lợi, Nguyễn Trãi đã viết thư cho bọn chỉ huy quân Minh như Sơn Thọ - Phương Chinh - Thái Phúc - Vương Thông, v.v...để hoặc mắng nhiếc chúng, hoặc khiêu khích chúng, hoặc dụ chúng ra hàng. Nguyễn Trãi đã làm công tác địch vận rất tài tình. Chính ông đã đích thân đến thành Tam Giang(Việt Tri) chiêu dụ quân Minh, tướng giữ thành là Lưu Thanh đã đem toàn bộ quân đôi ra hàng, cũng chính Nguyễn Trãi đã viết thư chiêu dụ quân Minh ở Nghệ An - Thuận Hoá - Tây Đô, các thành này đều không phải đánh bằng quân sự, tướng Minh giữ thành Nghệ An là đô đốc Thái Phúc đã nghe lời khuyên của Nguyễn Trãi mở cửa thành ra hàng.Nhận thấy chính nghĩa của quân Lam Sơn, Thái Phúc đã đến chân thành Tây Đô để chiêu dụ quân Minh ở đấy và Thái Phúc còn bày cho nghĩa quân Lam Sơn phép chế tạo công cụ đánh thành Đông Quan.


+ + +


Cuối năm 1426, quân Lam Sơn bắt đầu vây thành Đông Quan. Lê Lợi đóng đại bản doanh ở dinh Bồ Đê, ngày ngày quan sát địch và cùng Nguyễn Trãi trực tiếp chỉ huy chiến đấu.


Thàng 10 năm 1427 Liễu Thăng mang quân tiếp viện, bị chết ở gò Mã Yên. Tình thế bọn Vương Thông ở thành Đông Quan vốn đã khốn quẫn càng thêm khốn quẫn, buộc Vương Thông phải viết thư cho người đến bản doanh nghĩa quân xin giảng hoà. Các tướng khuyên Lê Lợi nên tiếp tục đánh để tiêu diệt hết bọn chúng, nhưng ý kiến của Nguyễn Trãi thì lại khác. Ông biết rằng tình thế Vương Thông nhất định phải cầu hoà nên ông khuyên Lê Lợi không cần dùng vũ lực, mà thuyết phục chúng đầu hàng. Kết quả Vương Thông không đợi mệnh vua Minh đã tự ý giảng hoà với nghĩa quân Lam Sơn và xin rút quân vê nước.


Kháng chiến chống quân Minh thắng lợi, khi luận công ban thưởng, Nguyễn Trãi được ban quốc tính và phong tước Quan phục hầu. Về chức, ông giữ chức Nhập nội hành khiển kiêm Lại bộ thượng thư quản công việc cơ mật viện.



Trong lúc đất nước có giặc, ông đã dốc hết tâm lực cùng Lê Lợi và nghĩa quân Lam Sơn chịu đựng mọi gian khổ, khắc phục mọi khó khăn, xây dựng lực lượng từ không đến có, từ yếu đến mạnh và cuối cùng đã giành thắng lợi vẻ vang. Hoà bình lập lại, ông lại dốc hết tâm lực lo việc xây dựng đất nước :" đổi bỏ thói tham ô, sửa trừ tệ lười biếng. Bè đảng riêng tây phải dứt, thái độ cố phạm phải chừa, coi công việc quốc gia làm công việc của mình, lấy điều lo của sinh dân làm điều lo của thiết kỉ. Hết lòng hết sức giúp đỡ nhà vua. Khiến cho xã tắc yên như Thái Sơn, cơ đồ vững như bàn thạch ...". Suốt trong thời gian làm quan dưới triều Lê, từ Lê Thái tổ đến Lê Thái tôn, lúc nào ông cũng sống cuộc đời thanh bạch, giản dị, cần kiệm liêm chính và giầu lòng nhân nghĩa.

Nguyễn Trãi là người có ý thức dân tộc rất cao và luôn tin tưởng sâu sắc ở tương lai, tiền đồ của dân tộc. Cuộc đời ông là cuộc đời luôn suy tư và đầy lòng nhân ái, luôn luôn lo trước cái lo của thiên hạ, vui sau cái vui của thiên hạ. Ngôi nhà ông ở Côn Sơn khi ông coi quản dân 3 tỉnh, hai động Đông Bắc và Yên Quảng là ngôi nhà tranh "bôn bề vách xác xơ chỉ có sách là giàu".


Nguyễn Trãi là nhà chính trị hiếm có trong thời phong kiến Việt Nam, trước sau lúc nào cũng trung thành với lý tưởng của mình. Trong cuộc kháng chiến chống quân xâm lược nhà Minh cũng như trong thời gian làm quan với nhà Lê, ông sống một cuộc đời thanh bạch gian di. Bản thân ông tự hào được mặc áo vải, đi hài cỏ " Hài cỏ đẹp chân đi đủng đỉnh, áo bô quen cật vận xênh xang".



_____________________________________________________________________________


Bình luận, góp ý bài viết này Đọc toàn bộ bài viết này

HOT Nhất Nguyễn Trãi - Người Anh Hùng Dân Tộc MIỄN PHÍ

Đây là trang web hay miễn phí dành cho điện thoại
Loading 2