> Bách Khoa Toàn Thư Mở Trận El Alamein Thứ Hai Wikipedia
• Thể loại: Góc học tập
• Đăng lúc: 03/05/2013 - 16:53
• 1879 xem - 69 [Thích]
Bách Khoa Toàn Thư Mở Trận El Alamein Thứ Hai Wikipedia
03/05/2013 - 16:53  Hình ảnh Bách Khoa Toàn Thư Mở Trận El Alamein Thứ Hai  Wikipedia Góc học tập  anh dep wap anh dep full hd mobile di dong
Download file
Trận El Alamein thứ hai




Bách khoa toàn thư mở Trận El Alamein thứ hai

Wikipedia


Tham chiếnChỉ huyLực lượngTổn thất
Trận chiến El Alamein thứ hai
Một phần của Mặt trận Bắc Phi
thuộc Chiến tranh thế giới thứ hai

24 tháng 10, 1942
Hình chiến binh Úc trang tư thế tấn công
do Len Chetwyn dàn dựng và chụp.
.
Thời gian 23 tháng 10 - 3 tháng 11, 1942
Địa điểm El Alamein, Ai Cập
Kết quả Quân Đồng Minh thắng trận
Đồng Minh:

Anh Quốc

Úc

Tân Tây Lan

Nam Phi

Ấn Độ

Pháp

Hy lạp Khối Trục:

Đức Quốc Xã

Phát xít Ý

Bernard Montgomery

Harold Alexander

Erwin Rommel

Georg Stumme

Ettore Bastico
220000 lính
1100 xe tăng[1]
750 máy bay chiến đấu (530 serviceable) 116000 lính[1]
559 tanks[2]
275 Đức (150) & 400 Ý (200)
2350 tử vong [3]
8950 bị thương[3]
2260 mất tích[3]
500 xe tăng bị hủy[2]
97 máy bay chiến đấu [3]
111 súng [3] Đức: 1149 tử vong [4]
3886 bị thương[4]
8050 bị bắt [4]
64 máy bay [3]
Italian: 971 tử vong [4]
933 bị thương[4]
22071 bị bắt [3]
20 aircraft [3]
.
[hiện]
x • t • s
Mặt trận Bắc Phi
[hiện]
x • t • s
Chiến dịch Sa mạc Tây
El Alamein là một cứ điểm phía Bắc châu Phi. Trong thế chiến thứ Hai, quân Đồng Minh và quân khối Trục đánh nhau kịch liệt tại vùng đất này. Quân khối Trục tuy thắng thế trận thứ nhất (1 - 27 tháng 7 1942) nhưng không đủ sức tiến quân xa hơn và hai bên rơi vào tình trạng tiến thoái lưỡng nan. Trong trận thứ Hai (23 tháng 10 - 3 tháng 11 1942), quân Đồng Minh chiến thắng và bắt đầu cuộc đẩy lui quân đội Phát Xít ra khỏi Bắc Phi.

Mục lục

[ẩn]
1 Bối cảnh
2 Kế hoạch của quân Đồng Minh
3 Kế hoạch của quân phe Trục
4 Diễn tiến trận El Alamein thứ hai
4.1 Giai đoạn 1: Cuộc đột nhập
4.2 Giai đoạn 2: Cuộc đập vụn
4.2.1 Ngày D + 2: Chủ nhật, 25 tháng 10 năm 1942
4.3 Giai đoạn 3: Phản công
4.3.1 Ngày D + 3: Thứ Hai, 26 tháng 10 năm 1942
4.3.2 Ngày D + 4: Thứ Ba, 27 tháng 10 1942
4.3.3 Ngày D + 5-6: Thứ Tư - Thứ Năm, 28-29 tháng 10 1942
4.3.4 Ngày D + 7-9: Thứ Sáu-Chủ Nhật, 30 tháng 10 - 1 tháng 11 1942
4.4 Giai đoạn 4: Chiến dịch Supercharge
4.4.1 Ngày D + 10: Thứ Hai, 2 tháng 11 1942
4.4.2 Ngày D + 11: Thứ Ba, 3 tháng 11 1942
4.5 Giai đoạn 5: Vượt thoát
4.5.1 Ngày D + 12, Thứ Tư 4 tháng 11 1942
4.5.2 Ngày D + 13, Thứ Năm 5 tháng 11 1942
4.5.3 Ngày D + 14, Thứ Sáu 6 tháng 11 1942
4.5.4 Ngày D + 15-18, Thứ Bảy-Thứ Tư 7-11 tháng 11 1942
5 Bản đồ diễn tiến của trận đánh
6 Hậu quả
7 Chú thích
8 Tham khảo
[sửa] Bối cảnh

Xem thêm thông tin: Trận El Alamein thứ nhất
Vào đầu tháng 7 năm 1942, sau khi chiến thắng tại Gazala, Tập đoàn quân thiết giáp châu Phi (Panzerarmee Afrika) bao gồm Quân đoàn châu Phi của Đức và bộ binh Đức, Ý và các đơn vị cơ giới dưới sự chỉ huy của tướng Erwin Rommel tiến sâu vào đất Ai Cập, đe dọa đường vận tải và sức sống còn của quân đội Anh ở kênh đào Suez. Tướng Claude Auchinleck chỉ huy tập đoàn quân 8 của Anh phải rút lui về 50 dặm bên ngoài thành phố Alexandria. Vị trí của khu này dễ phòng thủ vì có sa mạc che chở và các chiến đoàn xe tăng của Rommel không thể vượt qua những hố cát sâu rộng. Tập đoàn quân 8 nhiều lần ráng phản công nhưng đều thất bại vì Rommel kiên trì giữ vững tư thế để chờ tiếp viện. Đến cuối tháng 7 thì quân Anh phải ngưng phản công để chờ tăng cường lực lượng. Qua tháng 8, thủ tướng Anh Winston Churchill sang Cairo họp cùng tham mưu trưởng là Alan Brooke quyết định tìm người thay Auchinleck chỉ huy tập đoàn quân 8. Tướng William Gott được chọn nhưng ông ta chết khi máy bay của ông bị quân Đức bắn rơi. Tướng Bernard Montgomery do đó được cử làm chỉ huy trưởng, cùng với tướng tham mưu trưởng mới là Harold Alexander.

Trong lúc này quân Đức cũng gặp nhiều vấn đề vì công tác vận tải rộng và xa quá mức hỗ trợ từ hậu phương. Đã thế lại có tin tình báo cho biết lực lượng tiếp viện hùng hậu của quân Đồng Minh đang kéo đến. Trước tình hình này, Rommel quyết định tấn công quân Đồng Minh mặc dầu quân đội của ông chưa chuẩn bị xong. Vào ngày 30 tháng 8 năm 1942 Rommel mở đầu cuộc tấn công gồm hai mũi dùi thiết giáp từ Alam Halfa. Tuy cuộc tấn công này thất bại, Rommel tìm hiểu được nhiều về tình hình chiến lược, và trong khi đang trong thế chưa thua, ông bắt đầu củng cố lực lượng và tăng cường công tác gài mìn và kéo dây kẽm gai, để phòng khi quân của mình lọt vào tư thế phải rút lui.

Về phía quân Anh, hai tướng Alexander và Montgomery cũng nhận thức được khả năng kháng cự của Rommel nên họ tiếp tục chịu dậm chân tại chỗ trong nhiều tuần lễ để củng cố lực lượng. Vấn đề chính không chỉ là thắng một trận, mà còn phải còn đủ sức đánh dấn tới để đẩy lui quân khối Trục ra khỏi Phi châu. Trong những trận đụng độ tại Bắc Phi trước đó, bên thắng chưa bao giờ có khả năng tiến tới và đánh tan quân địch; và bên thua lúc nào cũng có thể rút lui để hồi phục đánh tiếp.

Sau 6 tuần lễ củng cố lực lượng, tập đoàn quân 8 của Anh Quốc đã chuẩn bị xong và sẵn sàng tấn công. Quân của Montgomery gồm 200.000 lính, 1.000 xe tăng, tấn công quân của Rommel gồm 100.000 lính và 500 xe tăng.

[sửa] Kế hoạch của quân Đồng Minh

Với chiến dịch Lightfoot (nhẹ chân), Montgomery hy vọng đẩy quân theo hai ngã hành lang qua bãi mìn của của quân phe Trục phía bắc mặt trận. Một ngã theo hướng tây-nam băng qua sư đoàn quân New Zealand vào trung tâm dãy đồi Miteirya Ridge, ngã kia theo hướng tây, khoảng 2 dặm về phía bắc phần cuối của Miteirya Ridge, và chia hai sư đoàn 51 của quân Úc.[5] Sau đó lực lượng thiết giáp sẽ tấn công và đánh bại xe tăng của quân Đức. Những cuộc tấn công dụ địch tại trung tâm và phía nam của rặng đồi Miteirya sẽ góp phần đưa đẩy lực lượng Đức về phía bắc. Montgomery dự tính chỉ đánh 12 ngày trong 3 giai đoạn: đột nhập, tác chiến giành giật từng khu vực và phá vỡ sức phản kháng của địch quân.[6]

Montgomery dự tính cho đêm đầu tiên của cuộc tấn công sẽ đưa 4 sư đoàn bộ binh của quân đoàn XXX Anh tiến đánh theo đội hình hàng ngang dài khoảng 25 km (biệt danh dàn trận Oxalic) với mục tiêu đập vỡ tuyến phòng thủ của Đức. Kỹ sư công binh có nhiệm vụ khai phá và rà mình, vạch hai ngã tấn công hang lang qua bãi mìn - qua đó sư đoàn thiết giáp của quân đoàn X do Herbert Lumsden chỉ huy sẽ tiến sang chiếm tuyến đường Pierson, lập căn cứ quấy nhiễu đối phương, đồng thời bảo vệ mạng tây cuộc hành quân bộ binh. Sau đó theo kế hoach này thì sư đoàn thiết giáp sẽ tân công sâu vào thuyến phòng thủ của Đức và nẳm giữa hai tuyến đường về Rahman, chống lại thiết giáp của địch.[5]

Năm 1941, Anh bắt đầu sản xuất máy rà mìn do kỹ sư quân đội Józef Kosacki người Ba Lan sáng chế tại Scotland. Năm trăm máy được đem sang Tập đoàn quân 8 trong cuộc tấn công quân đội Đức. Máy này có khả năng rà phá mìn với tốc độ 200 mét mỗi giờ, gấp đôi loại máy cũ.[7][8]

Nhiều tháng kế đó, quân liên hiệp Anh thao diễn tập dợt khắp nơi để gây hoang mang và đánh lạc hướng địch quân - gọi là Chiến dịch Bertram. Vào tháng 9, quân Anh lập một ụ đất đẻ bỏ rác và đồ phế thải dưới màn ngụy trang ở một vùng đất phía bắc chiến trường. Quân Đức dò tìm thấy nhưng khi biết chỉ là bãi rác thì không để ý đên nữa. Quân Anh từ từ mỗi đêm sau đó đem nhiên liệu, vũ khí, đạn dược ra tiếp tế vào đó, thay thế đồ phế thải - quân Đức vẫn không hay biết. Ở phía nam thì quân Anh cho làm xe tăng giả (bằng gỗ thô nằm trên các xe Jeep nhỏ) và lập đường ống dẫn dầu giả để làm nghi binh. Trong khi đó, xe tăng thật sự đang đồn quân tại phía bắc thì lại được ngụy trang thành xe chở hàng.[9]

[sửa] Kế hoạch của quân phe Trục



Vị trí quân sự trước trận chiến
Sau tổn thất trong cuộc tấn công không thành tại Alam el Halfa, lực lượng phe Trục kiệt quệ trầm trọng. Quân Đức-Ý bị căng thẳng và kiệt sức vì không đủ tiếp viện, phải sinh tồn bằng những nguyên vật liệu bắt được từ phe Đồng Minh. Trong khi tiếp viện bên Đồng Minh được tăng cường từ Úc, New Zealand, Ấn Độ và Hoa Kỳ, quân Đức tại châu Phi không chẳng nhận được gì vì bộ tư lệnh trung ương Đức lúc bấy giờ đang đổ hết nhiệt huyết vào chiến trường Xô-Đức.

Đã vậy, Rommel lại còn ngã bệnh. Đầu tháng 9, ông xin về Đức nghỉ bệnh, tướng thiết giáp Georg Stumme được triệu từ mặt trận Xô-Đức sang châu Phi thay thế Rommel. Ngày 23 tháng 9 Rommel hoạch định chiến lược phòng thủ mặt trận Bắc Phi, một lần nữa nhấn mạnh với tư lệnh Đức về sự thiết yếu của tập đoàn quân thiết giáp Panzerarmee.[10].

Rommel biết chắc rằng một khi đầy đủ lực lượng, quân Anh và Đồng Minh sẽ mở cuộc tổng tấn công. Ông cầu mong trận Stalingrad sớm chấm dứt để Đức có khả năng đem quân đánh xuống mạng Trung Đông và chia bớt lực lượng Đồng Minh. Trong tình hình hiện thời, quân Đức dưới tay ông chỉ còn cách nằm chờ quân Anh đến đánh. Rommel đặt hai vòng đai phòng thủ gồm nhiều ô đất hình hộp, phía trước mỗi ô có một đội quân canh giữ, phía sau là một bãi mìn (những ô đất này được quân Anh gọi là Vườn Quỷ (tiếng Anh: "Devil's Gardens"), tạo khó khăn cho xe tăng Anh chạy qua và xoay xở. Lực lượng phòng thủ chính yếu nằm khoảng 2 km phía sau những ô đất mìn này.[11] Quân Đức cài khoảng nửa triệu mìn, phần lớn là loại mìn chống tăng Teller, còn lại là mìn chống lính.[12][6] (một số lớn là mìn của Anh bị Đức tịch thu trong trận đánh tại Tobruk trước đó). Để dụ địch tiến vào, quân Ý dùng dây kéo trục bánh xe chạy ngang dọc các bãi đất trước khi gài mìn - tạo ảo giác là có xe chạy qua khu này rồi.[12] Một nguy hại của kế hoạch này là hỏa lực thiết giáp Đức-Ý bị phân tán mỏng. Phía sau, Rommel chỉ còn các đơn vị cơ động (sư đoàn 90 khinh binh Đức và sư đoàn Trieste Ý).[13]

Rommel không muốn chạm trán với quân thiết giáp Anh trên chiến địa mở rộng vì quân đội của ông không còn đủ lực lượng và nhiên liệu để phản kháng. Ông phải cố gắng tạo thuyến phòng thủ vững chắc để có thể dồn sức đánh nhanh và lấp kín những chỗ hở mỗi khi bị quân Anh chọc thủng. Quân Đức-Ý củng cố sức mạnh phòng thủ bằng cách xen kẽ đội hình đóng quân. Rommel thường khi vẫn tập trung lực lượng thiết giáp vào một nơi nhưng vì không biết quân Đồng Minh sẽ mở cuộc tấn công ở đâu, ông phải chia hai ra đoàn thiết giáp, một ở phía bắc (sư đoàn 15 thiết giáp Đức và sư đoàn Littorio Ý) và một ở phía nam (sư đoàn 21 thiết giáp Đức và sư đoàn Ariete Ý). Hai nhánh này có nhiệm vụ di chuyển chống đỡ và nhanh chóng lấp kín các kẽ hở bị quân Anh chọc thủng. Rommel hy vọng là khi quân Anh kéo sang, quân Đức-Ý đủ khả năng di chuyển nhanh hơn quân Đồng Minh và tập trung mạnh mẽ hơn vào những trọng tâm giao chiến. Tuy nhiên ông cũng nghi ngại vấn đề khan hiếm nhiên liệu.[14]

[sửa] Diễn tiến trận El Alamein thứ hai

Trận đánh được chia thành 5 giai đoạn: đột nhập (23 - 24 tháng 10), phá vụn (24 - 25 tháng 10), phản công (26 - 28 tháng 10), Chiến dịch Supercharge (1 - 2 tháng 11) và vượt thoát (3 - 7 tháng 11). Trong 3 ngày 29 - 31 tháng 10, cuộc chiến khựng lại và không nằm trong những mốc thời điểm đáng ghi.

[sửa] Giai đoạn 1: Cuộc đột nhập



Lính Ý nghỉ mệt quanh xe thiết giáp
Trước khi thực sự giao chiến, lữ đoàn 24 Úc đánh lạc hướng địch bằng cuộc công phá dữ dội vào sư đoàn 15 thiết giáp Đức.[15] Sau đó, vào lúc 9 giờ 40 phút tối ngày 23 tháng 10 [16] trong đêm sáng trăng yên tĩnh, Chiến dịch Lightfoot bắt đầu. Đồng loạt 882 súng lớn nã pháo bắn 40 dặm sang chiến tuyến của địch quân.[17] Sau 20 phút pháo kích liên tục, đại bác bắt đầu được cho nhắm kỹ vào các mục tiêu chiến thuật để hỗ trợ đoàn lục quân tiến sang.[18] Cuốc công pháo tiếp tục trong 5 tiến rưỡi đồng hồ, với mỗi đại bác bắn ra trên dưới 600 viên.

Chiến dịch Lightfoot mang tên nhẹ chân là vì chiến thuật cho quân lính chạy bộ tràn sang bãi mìn trước. Mìn chống tăng khi bị đạp lên thường sẽ không nổ vì trọng lượng của người lính quá nhẹ. Sau đợt lính bộ là đợt kỹ sư công binh chạy sang rà và tháo gỡ mìn, mở những lối đi bề ngang khoảng 7.3 mét vừa đủ rộng cho xe tăng chạy qua. Các toán công binh phải tháo mìn cho tuyến đường dài 8 km băng qua các ô đất Vườn Quỷ. Công tác này quá khó khăn và không hoàn thành được vì bãi mìn của Đức quá sâu rộng.

Lúc 10 giờ tối, 4 sư đoàn lục quân của quân đoàn XXX bắt đầu tiến sang nhắm vào trung tâm của lực lượng phòng thủ của quân phe Trục. Khi đến bãi mìn đầu tiên, xe rà mìn và toán thám thính công binh kéo sang tháo mìn và lập đường đi cho xe tăng. Tuy chậm hơn dự tính, đến 2 giờ sáng, 500 xe tăng đầu tiên chuyển xích tiến sang. Đến 4 giờ sáng, xe tăng đầu tiên chạy vào bãi min làm tung cát bụi lên mờ mịt và những đơn vị đi sau không thể thấy đường đi - làm trị trệ cuộc hành quân.

Cùng lúc, sư đoàn xe tăng 7 Anh và một lữ đoàn Lực lượng Pháp tự do thuộc quân đoàn XIII mở cuộc tấn công dụ địch ở phía nam chiến trường với mục đích kềm hãm sư đoàn 21 Đức và sư đoàn Ariete Ý tại Jebel Kalak. Trong khi đó, bên trái có quân Pháp chiếm Qaret el Himeimat và đồng bằng el Taqa. [5] Bên phải có lữ đoàn 131 thuộc sư đoàn lục quân 44 phòng vệ. Cuộc tấn công này bị lính dù phe Trục (sư đoàn 185 dù, lữ đoàn dù của Hermann-Bernhard Ramcke và toán quân Keil) phản kích dữ dội.[19][20] Công tác tháo mìn và tạo đường đi cho xe tăng bị trì hoãn vì bãi mìn quá sâu rộng và quân phe Trục bắn trả liên tục. Rạng sáng ngày 24, đường đi qua bãi mìn vẫn chưa làm xong. Hai lữ đoàn 22 và 4 thiết giáp nhẹ do đó không thể tiến sang Deir el Munassib ở phía bắc như dự tính.[5]

Xa hơn về phía bắc, sư đoàn 50 lục quân Anh bị hai sư đoàn Pavia và Brescia và lữ đoàn lính dù 185 Đức cầm chân.[21] Sư đoàn 4 lục quân Ấn Độ hai lần tấn công sườn đồi Ruweisat để phân tán lực lượng đối phương.[22]

[sửa] Giai đoạn 2: Cuộc đập vụn

Sáng thứ bảy 24 tháng 10 bộ chỉ huy Đức được tin báo cáo quân địch đánh sang trên chiến tuyến rất rộng nhưng các đơn vị phòng thủ còn đủ sức cầm cự. Tướng Stumme ra mặt trận dò xét nhưng khi căn cứ ông đang tham quan bị pháo kích của đối phương, Stumme căng thẳng quá nên chết vì nhồi máu cơ tim. Trung tướng Ritter von Thoma phải tạm thời lên nắm chỉ huy quân Đức. Hitler truyền lệnh cho Rommel phải ra khỏi giường bệnh trở về Bắc Phi. Rommel trên đường sang Phi ghé Rome đòi hỏi tư lệnh Ý phải cho tiếp viện thêm nhiên liệu cho chiến trường Bắc Phi. Lực lượng thiết giáp Đức từ ngày 25 tháng 11 đó kết hợp đồng nhất với quân Ý (với tên gọi Deutsch-Italienische Panzerarmee).[23]

Rạng sáng Montgomery nghe máy bay thám thính báo cáo đội hình quân phe Trục không có thay đổi gì mới. Ông liền ra lệnh sư đoàn New Zealand cùng sư đoàn 10 thiết giáp tiến xa hơn rồi vòng về phía nam tấn công rặng đồi Miteirya. Sư đoàn 9 Úc phải dồn hết sức đập vụn lực lượng Đức-Ý trong vòng một đêm. Ở phía nam sư đoàn 7 thiết giáp phải tiếp tục công kích và tiến vào bãi mìn, và nếu cần có thể kéo thêm hỗ trợ của sư đoàn 44..[24]

Trong khi chờ đợi toán công binh phá mìn làm đường, cuộc tấn công ngừng lại. Thiết giáp nằm yên trên chiến tuyến Oxalic[6] nhường cho không quân Đồng Minh oanh tạc địch quân, nội trong một ngày có hơn 1000 phi đoàn bay sang bắn phá quân Đức-Ý.[24]

Quân thiết giáp Đức phản kích đánh sư đoàn 51 Lục quân Anh mờ sáng hôm sau nhưng bị cầm chân. Đến 4 giờ chiều chẳng bên nào tiến thoái gì được. Lúc hoàng hôn, quân phe Trục gồm sư đoàn 15 thiết giáp Đức và sư đoàn Littorio lục quân Ý quay trở iại tấn công sư đoàn 1 thiết giáp Anh. Đây là cuộc so tài xe tăng quy mô đầu tiên của trận El Alamein thứ hai. Hơn 100 chiếc xe tăng tham chiến, một nửa bị bắn hỏng, nhưng sau cùng không bên nào chiếm được thế thắng.[cần dẫn nguồn]

Tối đến, sư đoàn 10 thiết giáp tấn công rặng đồi Miteirya nhưng thất bại. Công tác gỡ mìn tại đây chậm quá mức dự tính của kế hoạch. Lữ đoàn 8 thiết giáp đi đầu đang chờ đội gỡ mìn dọn đường thì bị máy bay phe Trục oanh tạc, phải bỏ đội ngũ chạy tán loạn. Khi chấn chỉnh được hàng ngũ thì bị trễ kế hoạch và mất liên hệ với pháo binh. Do đó khi sáng ra thì lữ đoàn xe tăng này nằm phơi lộ liễu, bị địch quân dễ dàng phát hiện và nhắm bắn tơi bời. Trong khi đó, lữ đoàn 24 thiết giáp kéo đi được khá xa, tưởng rằng đã đến mục tiêu là tuyến Pierson - báo cáo thành công với chỉ huy nhưng sau đó mới biết chưa hẳn đến mục tiêu.[25]

Ở phía nam chiến trường, quân đoàn XIII cũng không khá gì hơn. Lữ đoàn 131 lục quân thuộc Sư đoàn 44 mở đường qua bãi mìn cho Lữ đoàn 22 Thiêt giáp tiến sang nhưng bị địch quân bắn phá dữ quá phải bỏ chạy, thiệt mất 31 xe tăng.[25]

Tối đến không quân Đồng Minh thả 300 tấn bom vào đoàn thiết giáp phía bắc của Rommel. Để tránh không cho máy bay Đức phản kích, các phi đạo của quân Đức cũng bị dội bom dữ dội hơn.[25]

[sửa] Ngày D + 2: Chủ nhật, 25 tháng 10 năm 1942



Bernard Law Montgomery
Cuộc tấn công đầu tiên ngưng lại vào ngày Chủ Nhật. Quân Đồng Minh mở được lối vào bãi mình rộng 10km sâu 8km, chiếm được phía đông nam rặng đồi Miteirya. Bên kia quân Đức-Ý đào hào chiến lược nằm cố thủ giữ vững vị trí. Trận đánh lúc này coi như bất phân thắng bại. Montgomery kiểm soát tình hình và nhận thấy nếu tiếp tục theo kế hoạch cho quân New Zealand đánh từ đồi Miteirya về phía nam sẽ đem lại nhiều tổn thất. Ông quyết định đổi chiến thuật ra lệnh Quân đoàn XXX một mặt giữ đồi Miteirya một mặt cho Sư đoàn 9 Lục quân Úc đánh lên phía bắc. Đồng thời, Sư đoàn 1 Thiết giáp kè theo bên trái của quân Úc đánh về phía tây-bắc. Phần còn lại của mặt trận tiếp tục canh phòng và giữ vững vị trí.[26] Thay đổi của thế trận chú trọng vào vùng thung lũng cát hình quả thận và Tel el Eisa cho đến khi chọc thủng được phòng thủ của Đức.

Sáng hôm sau Sư đoàn 15 thiết giáp Đức và Sư đoàn Littorio Ý mở cuộc tấn công cố gắng tìm sơ hở của quân Đồng Minh nhưng thất bại. Đến chiều thì Đồng Minh tấn công. Sư đoàn 51 Anh mở 3 đợt công kích vào thung lũng quả thận nhưng do đêm tối quá không ai biết rõ vị trí của mình như thế nào. Trong tình thế hỗn loạn, hơn 500 lính Đồng Minh tử trận.[cần dẫn nguồn] Trong khi đó quân Úc tấn công cứ điểm 29, [27] một đài quan sát pháo binh của Đức nằm trên ngọn đồi cao 6 thước phía nam Tel el Eisa. Mục đích của cuộc tấn công này là bao vây quân Đức (Sư đoàn 164 khinh binh) và một số đơn vị lục quân Ý đang dồn quân gần bờ biển.[28] Lữ đoàn 26 Úc tấn công vào giữa khuya dưới hỗ trợ của pháo binh và 30 xe tăng của Sư đoàn 40 Thiết giáp Hoàng gia Anh. Tuy quân phe Trục phản công kịch liệt, quân Úc chiếm được cứ điểm này và bắt được 240 tù binh. [29] Trong nhiều ngày sau đó, quân phe Trục ráo riết đến đánh để chiếm lại cứ điểm quan trọng này nhưng thất bại.

Không quân Đồng Minh tiếp tục thả bom khắp nơi và phá hủy nhiều căn cứ cơ sở của Đức, trong đó có 14 tấn máy bay Stuka tại Sidi Haneish. Các chỗ đáp của máy bay Đức cũng bị không quân Đồng Minh tuần tra và khống chế.[29]

[sửa] Giai đoạn 3: Phản công

[sửa] Ngày D + 3: Thứ Hai, 26 tháng 10 năm 1942



Xe tăng và lục quân Đức tại Bắc Phi
Rommel vừa trở lại đất Phi lập tức kiểm điểm tình hình chiến cuộc. Ở phía bắc, quân Đức bị Đồng Minh pháo kích và oanh tạc gây tổn thất rất nặng nề. Sư đoàn Trento Ý mất phân nửa lực lượng, binh lính và súng pháo, sư đoàn 164 Khinh binh mất hai tiểu đoàn. Hai sư đoàn 15 Panzer và Littorio tuy cầm cự được với lực lượng thiết giáp Đồng Minh, cũng phải chịu nhiều thiệt hại đáng kể.[23]. Những đơn vị khàc cũng không khá gì hơn, lính tráng chỉ lãnh được nửa phần lương thực và tiếp tế. Xăng thì chỉ còn đủ xài cho 3 ngày.[cần dẫn nguồn]

Rommel dự đoán hướng tấn công duy nhất là phía bắc mặt trận[30] và quyết chí phải giành cho được cứ điểm Point 29. Ông cho sư đoàn 15 Thiết giáp và sư đoàn Khinh kỵ 164 cùng một số đơn vị của quân đoàn XX Ý tấn công cứ điểm này lúc 3 giờ chiều nhưng thất bại vì Đồng minh bắn pháo dữ dội quá.[31] Cùng ngày, Rommel quyết định đẩy hết lực lượng còn lại ra trận. Đây là một mốc ngoặc quan trọng của trận El Alamein. Sư đoàn 21 Panzer và một phần của sư đoàn Ariete tiến lên phía bắc yểm trợ Panzer 15 và Littorio. Sư đoàn 90 Khinh binh đang đóng tại tại El Daba phải tiến lên. Sư đoàn 101 Trieste Cơ động kéo từ Fuka lên thay sư đoàn 90. Sư đoàn 21 và Ariete tiến quân chậm chạp vì bị pháo kích liên tục.[32]

Tại thung lũng quả thận, quân Anh không giành được thế chủ động mặc dù quân địch thiếu xe tăng. Mỗi đợt tấn công đều bị Đức dùng súng chống tăng đẩy lui. Thế trận
Bình luận, góp ý bài viết này Đọc toàn bộ bài viết này

HOT Nhất Bách Khoa Toàn Thư Mở Trận El Alamein Thứ Hai Wikipedia MIỄN PHÍ

Đây là trang web hay miễn phí dành cho điện thoại
Loading 2